Showing posts with label truyện ngắn hay. Show all posts

Ba người trong quán mưa...



Từ lúc gặp lại chị đến giờ nhỏ cứ thao thao bất tuyệt kể về tình yêu của mình với một anh chàng tên K nào đó. Nhỏ kể chuyện tình yêu như kể lại một bộ phim truyền hình Hàn Quốc nhiều tập, nhiều tình tiết rối rắm. Mà vì rối rắm quá nên nhỏ chỉ nhớ được khúc đầu và khúc cuối của phim thôi. Còn khúc giữa không biết vì vô tình hay cố ý nhỏ quên chẳng đả động gì đến. Đúng lúc ngoài đường phố mọi người đang nháo nhác chạy mưa thì nhỏ kể đến đoạn nhỏ gặp K khi đang chen lấn mua hàng giảm giá trong siêu thị. Anh Khương- bạn trai chị nghe xong thì cười bảo:
-Hai người gặp gỡ trong hoàn cảnh lãng mạn quá cơ!
Chị hết nhìn nhỏ lại quay sang nhìn ông bồ tủm tỉm cười:
-Anh Khương không biết đấy thôi. Con nhỏ tài săn hàng khuyến mãi lắm. Cứ chỗ nào có hàng giảm giá là sà vào bằng được kể cả có sắp muộn giờ làm hay trời có sắp sập đi chăng nữa.
-Hèn chi!
Nhỏ che miệng cười khúc khích, rồi lại kể tiếp đoạn đầu tình yêu đầy hạnh phúc của mình. Vừa kể nhỏ vừa bấm từng đốt tay tính rành mạch từng kỉ niệm. Nào thì kỉ niệm mùa đông hai đứa đi ăn kem tràng tiền ngoài bờ hồ Lúc nổ máy xe ra về do mải nói chuyện mà K không biết rằng nhỏ vẫn chưa kịp leo lên xe, bỏ nhỏ lếch thếch đi bộ một đoạn dài. Kỉ niệm Hà Nội mùa hoa điệp, K rất kiên nhẫn lẽo đẽo làm phó nháy cho nhỏ và tụi bạn. Kỉ niệm mùa đông hôm trời mưa K chở nhỏ đi làm. Cái áo mưa của K bị thủng một lỗ ngay giữa lưng, nhỏ ngồi sau cứ nhằm đúng cái chỗ thủng mà hứng mưa đổ vào cho ướt sũng rồi cười khúc khích. Nhỏ kể đến đây thì anh bật cười quay sang nhìn chị bảo:
-Cái này thì giống em quá nhé! Hèn chi mà hai chị em lại thân thiết nhau đến thế. 
-Nhưng mưa Sài Gòn thì đỏng đảnh hơn. Chắc tại vì mưa đỏng đảnh  nên anh cũng không đủ kiên nhẫn được như K.
-Thôi nào! Em không thấy anh vẫn ngồi đây bên em sao?
Nhỏ không quan tâm đến mấy lời giận dỗi vu vơ của chị. Nhỏ mải nhìn Khương cười, nụ cười hối lỗi ấm áp và đáng yêu đến lạ. Rồi nhỏ nói bâng quơ như thể nói với chính mình “ừ! Cả em và chị đều thích mưa hèn chi lần nào chị gọi cho em cũng đều nghe thấy mưa rơi lạnh buốt bên tai”. Anh định châm lửa hút thuốc nghĩ thế nào lại thôi. Chị thả những viên đá nhỏ cuối cùng vào cốc, khoáng leng keng…leng keng… Nhỏ gõ mười búp măng xuống bàn, nhịp nhàng như một người nghệ sỹ lướt trên từng phím đàn. Ngoài kia mưa trắng một màn trời, mưa đã rất lâu mà con người vẫn không thôi nhốn nháo…
                                             * * *
Chị gục đầu xuống bàn, nghiêng mắt ngắm mưa chăm chú như một đứa trẻ. Thi thoảng chị lại hỏi một câu, buông thẫn thờ giữa cái không khí trầm lắng, ảm đảm của quán xá ngày mưa. Ba người ngồi bên nhau, đối thoại một cách rời rạc nhưng không hiểu sao không ai muốn đứng dậy để kết thúc cuộc gặp gỡ này.
-Không biết bao giờ mưa mới tạnh?
-Có thể là tí nữa. Cũng có thể là đến đêm chị ạ.
-Dù sao cũng chẳng biết làm gì cho hết tối nay. Cứ mưa đến đêm cũng chẳng sao- Khương thủng thẳng nói.
Nhỏ nghe thấy một tiếng thở dài. Chắc là của chị. Chị dường như không chịu nổi sự im lặng của ba người nên bảo:
-Kể tiếp mấy khúc tình yêu của em đi cưng!
-Ờ! Hay em kể khúc cuối chị nghe nha! Cũng mùi mẫn phết!
-Happy ending chứ gì? Cưới luôn đi để chị với anh Khương còn kịp ăn cỗ trước khi bay về Sài Gòn. Mà mùa này có phải là mùa cưới không em?
Khương xoay xoay tách cafe nhìn chị bảo:
-Mùa nào chẳng là mùa cưới. Yêu thì cưới thôi chứ hơi đâu chờ tháng chờ năm cho mệt.
-Thế sao yêu nhau bao lâu rồi mà chưa thấy khi nào anh tính chuyện cưới em?
Nhỏ cười:
-Mùa này là mùa hoa phượng. Cháy đỏ cả một góc trời rồi tàn lụi. Hình như tình yêu và hôn nhân cũng thế. Cứ đắm đuối hết mình rồi đến một ngày tự nhiên giật mình vì ngoảnh lại chẳng thấy bóng dáng của nhau hiển hiện trong đường trái tim ấy nữa.
Chị rời mắt khỏi những hạt mưa, ngoảnh lại nhìn nhỏ:
-Trong khúc cuối của tình yêu thì K của em đã đi đâu sao?
-À vâng! Đã đi sang một hướng khác chị ạ.
-Thế mà…chị cứ tưởng hai người đã tính chuyện cưới hỏi cơ đấy.
-Thì hẳn…Nhưng ngay cả khi hôn nhân cũng chỉ là một tờ giấy kết hôn thì có gì mà giằng níu nhau khi hai con tim không còn cùng nhịp đập.
-Là lỗi của K sao?
Khương cười:
-Lỗi của ai thì chẳng quan trọng, duyên số có thế thôi. Có muốn níu kéo cũng chẳng được, cứ coi như người ta không là của mình. Giằng níu trong tình yêu là thứ giằng níu kinh khủng nhất.
Nhỏ cười, nhìn Khương bằng ánh buồn héo hắt. Có mấy khi nhỏ buồn đến thế đâu. Còn chị vẫn nhìn chăm chú vào ô cửa sổ ướt nhòa mưa rồi bất chợt hỏi Khương:
-Anh nói nghe như thể anh đã hoặc đang phải trải qua điều khủng khiếp ấy không bằng.
Khương không nói gì quay sang nhỏ hỏi:
-Em chắc vẫn còn yêu K nhiều chứ?
-Nhiều như một thói quen. Em đã quen có K bên cạnh bốn năm rồi giờ không dễ gì quên được đâu anh.
-Cũng chẳng sao. Thực ra thì tất cả chúng ta đều cần có thời gian để mà quên mà nhớ.
                                         * * *
Có lẽ thấy ba người ngồi đã khá lâu, trời đã tối mà cơn mưa thì vẫn dai dẳng không ngớt chút nào. Nên một nữ nhân viên phục vụ bàn lại gần lịch sự hỏi:
-Quý khách có muốn dùng bữa tối tại đây không ạ? Nhà hàng của chúng tôi ngoài phục vụ đồ uống còn kiêm luôn phục vụ các bữa ăn nữa ạ.
Chị nói chị muốn ăn phở Hà Nội. Anh chọn mì xào. Nhỏ chọn một đĩa cơm rang thập cẩm. Ngồi nhìn nhỏ ăn một cách ngon lành, anh cười bảo:
-Biết thế anh cũng chọn cơm rang như em để ăn có phải hay không.
-Mì xào cũng ngon mà. Nếu không em gọi món khác cho anh nhé!
-Mì xào nhiều dầu mỡ quá không tốt cho cho anh. Thôi khỏi! Anh nói vậy thôi chứ anh dạo này chắc do ăn nhiều đồ béo nên anh mắc bệnh ngán ăn rồi.
-Tại sao không chọn phở? Anh không biết là phở Hà Nội rất ngon sao?- Chị hỏi.
-Phở ăn không chắc dạ. Mà anh cũng không thích. Không phải cứ cái gì người ta khen mình cũng thấy ngon.
Chị không nói gì, khẽ cười, gắp từng sợ phở ăn nhẩn nha như trẻ biếng ăn. Nhỏ nhìn chị ăn mà nghĩ nếu nhỏ là đàn ông chắc là nhỏ sẽ yêu chị đến mê mệt mất. Chị đẹp. Nét đẹp đằm thắm của gái xấp xỉ ba mươi. Điểm nhấn trên khuân mặt thanh tú ấy phảng phất nỗi buồn của đôi mắt hồ thu. Đôi mắt ấy từ nãy đến giờ thi thoảng vẫn lặng hướng ra ngoài cửa sổ chớp mưa. Nhỏ muốn thử chạm vào nỗi buồn man mác đẹp đến thánh thiện ấy. Bởi nhỏ không tin rằng trên đời lại có người con gái đẹp mỏng manh như chị.
Nhỏ quen chị cách đây ba năm khi cùng đi chung trên một chuyến tàu Bắc Nam. Chị ra bắc thăm mẹ và em còn nhỏ thì trở về sau một chuyến đi du lịch ngắn ngày trong Sài Gòn. Chỉ kể rất nhiều điều về mẹ bằng thứ ngôn ngữ của tình mẫu tử thiêng liêng. Chị yêu thương và tôn thờ người mẹ đã chịu nhiều gian truân vất vả để giữ gìn được hạnh phúc của mình. Chị bảo:
-Mẹ chị là con gái miền Tây, không quen bon chen cũng chẳng giỏi tính toán mà khi theo chồng ra Bắc phải học hỏi mọi thứ mới có thể làm dâu con miền Bắc được. Mười mấy năm rồi năm nào chị cũng ra thăm mẹ. Giờ mẹ chị đã già rồi, tóc muối, mắt hằn dấu chân chim, hàng ngày vẫn nhắc về một thiên đường ở thế giới bên kia mờ ảo.
-Mẹ chị từng lỡ dở một đời chồng?
-Ừ! Số mẹ chị lận đận. Trước lấy bố chị nhưng chung sống không hạnh phúc. Sau khi ly hôn thì mẹ nuôi em trai còn chị sống cùng bố. Mẹ chị khổ nhiều vì yêu thương nhưng đã yêu ai là vun vén hết lòng. Sau này chị cũng sẽ yêu như mẹ.
                                              * * *
Đã ba năm trôi qua, năm nào nhỏ cũng gặp lại chị vào mùa mưa như thế này. Nhưng hai năm trước chỉ có hai chị em ngắm mưa, chị không hỏi về  tình yêu của nhỏ. Nên nhỏ cũng không có cơ hội kể về khúc đầu, khúc cuối của chuyện tình giữa nhỏ với K. Hai năm trước cũng không có Khương ngồi đây. Có lẽ vì thế mà mưa của hai mùa trước cũng nhẹ nhàng hơn. Bất chợt nhỏ đưa mắt nhìn Khương, thoáng chút bối rối Khương ngoảnh vội ra cửa sổ. Chị là người bắt gặp khoảnh khắc ấy đúng lúc quay lại gọi “Nhỏ ơi!”. Ba sự lúng túng gặp nhau trong một vài giây bất động. Cũng may mà tiếng đổ vỡ cốc chén từ bàn bên cạnh, tiếng người mẹ quát đứa con nhỏ nghịch nghợm đã phá tan tình huống khó xử ấy. Nhỏ vội vàng hỏi chị:
-Chị bảo gì em vậy?
Chị vẫn còn chưa hết luống cuống khi nhìn thấy những ngón tay của nhỏ đan vào nhau một cách vụng về. Chị giả bộ nhìn quanh quán rồi vỗ nhẹ vào tay nhỏ hỏi:
-Quái lạ! Chị chẳng nhìn thấy lối ra nhà vệ sinh đâu cả.
-À! Quán này thiết kế nhà vệ sinh ở bên ngoài. Chị phải đi vòng ra ngoài, nhà vệ sinh gần khu cây cảnh đó chị. Chị nhớ đi nép vào hiên không mưa hắt ướt hết đó.
Nhỏ có lẽ đã không hiểu rằng những cái vỗ nhẹ nhàng vào tay nhỏ khi nãy thật ra là những cái vỗ về của chị. Chị nhận ra trong ánh mắt của Khương dành cho nhỏ có chút thương mến, rung động cũng giống như lần đầu tiên Khương nhìn chị cách đây hai năm. Chị cũng thoáng chốc buốt tim trong cái bối rối rất đàn bà của Nhỏ, chị cũng đã từng như thế. Chị bước vào nhà vệ sinh tô đậm thêm môi son, chải lại mái tóc xoăn uốn lọn buông hững hờ rồi thong thả bước ra. Lúc này cơn mưa vẫn còn dai dẳng, một bên vai chị bị mưa táp vào ướt nhẹp. Lúc quay lại chỗ ngồi Khương tút giấy trong hộp đưa cho chị bảo lau đi cho đỡ ướt. Chị cười…
Chị liếc nhìn đồng hồ, lẩm bẩm dự đoán chắc ít nhất cũng phải chín giờ tối thì may ra mưa mới ngớt. Cũng không thể tự nhiên đứng dậy đòi về giữa trời mưa gió mịt mùng trong khi chẳng có việc gì quan trọng. Cũng chẳng có cuộc điện thoại nào gọi đi mà nhỏ và Khương thì dường như vẫn muốn còn nán lại. Biết làm gì để giết thời gian trong lúc chờ mưa tạnh? Sao tự nhiên với chị cuộc gặp gỡ lại trở lên gượng ép đến thế? Ừ! Chắc là tại có thêm sự xuất hiện của Khương, nếu không thì hai chị em đã bình yên ngồi ngắm mưa và kể với nhau đủ thứ chuyện đàn bà. Thiếu gì chuyện để nói với nhau, nhưng có thêm Khương thì những câu chuyện hào hứng ấy lại trở lên vô duyên hơn bao giờ hết. Vậy ba người thì sẽ nói chuyện gì? Chị nghĩ ngợi rồi quay sang nhỏ bảo:
-Vậy còn khúc giữa tình yêu của em thì sao? Vì lý do gì mà em và K lại chia tay khi đã từng yêu nhau nhiều đến thế?
Nhỏ dùng ngón tay chấm nước rồi miết lên bàn chậm chậm. Không vội trả lời câu hỏi của chị, nhỏ nhún vai bảo:
-Chị thử đoán xem. Theo chị thì vì sao chứ?
-Chắc là tại em tham công tiếc việc nên không còn thời gian chăm chút cho tình yêu như xưa nữa?
-Chị sai rồi. Với em tình yêu ấy vẫn nồng nàn đến tận phút cuối cùng.
-Vì em không còn xinh đẹp và quyến rũ như xưa chăng?- Khương hỏi.
-Anh nghĩ thế sao? Vậy bây giờ ngồi trước mặt anh, nói thật đi, dưới con mắt của một người đàn ông như anh thì em có còn sức quyến rũ không?
Anh lúng túng ngoảnh sang nhìn chị, chị cười bảo:
-Ý anh ấy bảo em vẫn còn sức hấp dẫn lắm.
-Vậy thì lý do ấy không hợp lý nhé!
Chị chống cằm suy nghĩ một lúc rồi bảo:
-Vậy thì chắc chắn vì một người thứ ba đúng không?
Nhỏ cười:
-Ừ thì… trong các cuộc chia tay đến phần nửa nguyên do là có bóng dáng của người thứ ba. Tuy nhiên câu trả lời của chị đúng nhưng chưa đủ.
Khương hỏi:
-Em đã mất K đúng lúc em dành nhiều tình yêu thương và kì vọng vào K nhất đúng không?
-Sao anh biết?
-Ừ thì… Tại nỗi buồn trong mắt em đã nói lên điều đó.
Chị khẽ cười khi phát hiện ra Khương và nhỏ khi nói chuyện hơi hướng, giọng điệu rất giống nhau. Chị cũng đang tự hỏi không biết Khương đọc được điều gì trong mắt chị bây giờ? Hay là Khương còn đang bị hút vào câu chuyện tình của nhỏ. Nhỏ không để ý đến phút suy tư của chị bởi nhỏ đang mải kể cho Khương nghe khúc giữa chuyện tình yêu của nhỏ. Nhỏ bảo:
-Chuyện rất đơn giản thôi. Trong một chuyến đi nghỉ mát do công ty tổ chức, K đã phải lòng một cô gái khác. Họ gặp nhau có hai ngày trên biển, họ nói với nhau những gì, nghĩ cùng nhau những gì, thậm chí là làm gì cùng nhau em cũng thể biết. Chỉ biết rằng sau chuyến đi đó trở về em và K đã chia tay. Có thể là họ chỉ cùng ngồi ngắm hoàng hôn bên bờ biển. Cũng có thể là K đã lau nước mắt cho cô ấy… Điều đó rồi cũng có quan trọng gì đâu. Chỉ biết rằng tình yêu là điều rất mong manh. Bỗng một ngày ta mất nhau là vì thế…
Khi nhỏ kết thúc câu chuyện thì ngoài trời cũng tạnh mưa. Trong quán những vị khách đợi lâu đều vội vã trở về bên gia đình hay một vòng tay ấm. Đến lúc này nhỏ dường như mới bừng tỉnh khỏi miền kí ức. Nhỏ thấy sốt ruột vì đống quần áo phơi trên sân thượng không ai rút hộ vào và mấy chậu cây cảnh để chênh vênh bên cửa sổ. Nhỏ hỏi chị còn ở lại Hà Nội lâu không? Chị nói chắc là về sớm vì cũng còn nhiều việc tồn đọng trong đó cần giải quyết. Khương ngỏ ý muốn xin số điện thoại của nhỏ để tiện liên lạc. Nhỏ nhìn dáng chị bước nhanh về phía trước, phía hàng cây đang trút nốt những hạt mưa còn đọng lại khi trận gió vừa thổi đến. Lúc này nhỏ mới nhận thấy đôi vai bé nhỏ của chị khẽ run lên trước gió, hình như đợt này ra Bắc chị gầy hơn. Nhỏ không trả lời Khương mà bước nhanh vừa kịp níu lấy bàn tay chị lúc chị định sang đường trong dòng xe cộ ồ ạt sau mưa. Nhỏ bảo:
-Đợi đèn đỏ rồi sang chị ạ.
Đúng lúc ấy thì đèn đỏ bật. Nhỏ nắm lấy bàn tay chị thong thả bước sang đường. Bỏ lại Khương phía sau vẫn còn đang đứng loay hoay với mớ suy nghĩ rối rắm và lạc lõng của mình. Cho đến khi chị ngoảnh lại với gọi “Anh ơi!” thì Khương mới vội vã sang đường…

VTHT

Đi lạc...



Sau khi đi lạc, sau khi quay đầu liệu người ta có còn đủ sức lực và sự minh mẫn để tìm thấy đúng đường? Hay là lại lạc sang một con đường khác?


Ai cũng bảo Hà Nội nhỏ xíu, lỡ có đi lạc thì loanh quanh một lúc sẽ tìm thấy đường về. Vậy mà sáu năm nay lần nào ra đường một mình tôi cũng cứ lạc hoài trong cái vòng nhỏ xíu ấy. Nhiều hôm lạc đến đêm mới tìm thấy đường về, mới thấy Hà Nội sao mà dài rộng thế. Như buổi sáng nay tôi đã đi lạc giữa dòng người. Cứ trôi đi như không có điểm dừng, như không có biển báo quay đầu xe, như thể không có ai đứng bên đường để tôi dừng hỏi. Tôi cứ đi dù biết ngày càng xa dần nơi tôi cần đến, đi như muốn cạn kiệt, muốn buông xuôi theo dòng chảy. Tôi kịp nhận ra rằng trong tình yêu hình như tôi cũng đã đi lạc quá xa nơi cái đích tôi cần đến.
Tôi yêu anh. Tình yêu đẹp như những con đường Hà Nội trắng hoa sưa dẫn dụ, mê hoặc lòng người từng tháng ngày. Yêu như thể trên đời này không ai có thể chạm vào tình yêu ấy. Không ai có thể thay thế được vị trí của nhau. Yêu đến mức thế giới này chỉ có hai đứa mà thôi, cùng đứng về phía nhau dẫu đằng trước, đằng sau đều là nắng quái. Yêu đến mức nhiều khi ngồi nghĩ dại, lỡ đứa này chết đi rồi đứa kia biết sống làm sao, mà tự nhiên nước mắt sụt sùi. Yêu cho đến phút cuối cùng được ở bên anh để rồi nhìn anh đi theo người con gái khác thì tôi vẫn nghĩ rằng tình yêu đó là mãi mãi. Tôi đã đi lạc quá xa rồi…
Anh ở đâu?
                                           * * *
Chúng tôi yêu nhau vào những năm tháng sinh viên nghèo rớt, chia nhau từng gói mì tôm sống là chuyện thường tình. Hồi đó suất cơm sinh viên chỉ có ba nghìn đồng, thế mà cuối tháng chưa có tiền nhà gửi xuống, nhiều hôm anh giả bộ ăn no rồi để nhường tôi. Để có tiền ăn học và đỡ đàn cha mẹ, chúng tôi lao đi làm thêm khắp nơi, bị thiên hạ lừa nhiều tôi chỉ biết gục đầu vào vùng ngực bình yên của nhau để khóc. Lao đi trong dòng xoáy chật vật của cuộc đời tôi quen với việc có anh luôn đứng đợi ở cuối đường để bớt sợ hãi hơn. Rồi thì ra trường, vật lộn với cuộc chạy đua kiếm tìm công việc đầy cám dỗ nhưng tình yêu của chúng tôi vẫn chẳng có gì thay đổi. Vẫn nồng nàn, tha thiết và cần đến nhau như một nửa trời định của mình. Có lần khi ngồi trên tầng thượng khu kí túc nghĩ vu vơ, tôi bất chợt hỏi anh:
-Sau này, lỡ có một ngày hai đứa mình không còn thuộc về nhau nữa. Anh sẽ làm gì mỗi buổi sáng thay vì réo gọi ầm ĩ em đi thể dục?
-Sẽ nhớ đến em.
-Mỗi buổi tối anh sẽ làm gì thay vì đưa em đi dạo?
-Anh sẽ vẫn đi dạo.
Tôi xị mặt. Anh nhéo má tôi, cười bảo:
-Nhưng là đi dạo trong miền kí ức về em. Được chưa nào cô bé đa sầu đa cảm này. Chúng mình làm sao mà xa nhau được chứ. Chỉ được cái hay nói linh tinh. Lần sau còn nói thế anh phạt đấy.
Ừ! Làm sao mà lại tin có ngày hai đứa sẽ chia tay, khi tình yêu ngọt ngào đến thế. Tôi từng nhiều đêm thao thức chỉ vì nghĩ cho được một cái tên hay cho con gái. Anh bảo:
-Con trai sẽ tên là Vũ
Tôi cười:
-Con gái nhất định là Kathy. Ừ! Sao mà em thích mấy cái tên ấy đến thế nhỉ. Nhưng mà còn tên gọi ở nhà cho bọn nhóc, tên ở nhà là phải đáng yêu vào.
Anh lém lỉnh:
-Con gái là cà chua. Con trai là cà rốt. Anh là cà pháo. Còn em, em là cà chớn! Đủ bộ nhé!
Tôi nguýt anh nói người đâu mà lúc nào cũng lạc quan, đùa cợt được. Ngay cả khi thứ mà chúng tôi có chỉ là hai bàn tay trắng, loay hoay vào đời với nhiều hụt hẫng và rạn nứt. Những lúc ngồi chót vót trên một tầng cao nào đó. Thứ chúng tôi ngắm nhìn là những tòa nhà san sát, chi chít ô cửa kính. Rồi cứ tự hỏi sao nhà cửa đông đúc thế kia mà không có một cánh cửa nào dành cho mình cả? Bao giờ thì chúng tôi mới mua nổi một ngôi nhà dù là rất nhỏ ở cái thành phố quá đắt đỏ này? Bao giờ mới thoát cảnh ở thuê nay đây mai đó? Biết đến bao giờ? Vậy mà vẫn có những hôm hai đứa ngồi bàn hào hứng:
-Bao giờ mua nhà, anh sẽ mua một mảnh đất nho nhỏ làm vườn cho em trồng hoa và rau xanh. Những ngày nghỉ đẹp trời cả nhà có thể ra đó đùa vui, bọn trẻ thi thoảng sẽ nằm lăn ra cỏ xanh cười đùa. À! Cần phải có một cái bàn nhỏ để anh vừa uống cafe vừa đọc sách lúc rảnh. Em có thể ngồi ở đó vừa xem các con chơi đùa vừa có thể chuẩn bị đồ ăn cho buổi tối.
-Em muốn có một chiếc bàn làm việc quay ra cửa sổ. Để mỗi sáng mở toang cửa đón làn gió mới ùa vào. Cảm giác thật là thích.
Rồi bỗng nhiên giọng chùng xuống, anh bảo:
-Bao giờ…
Tôi cười buồn:
-Thôi đừng có “bao giờ” mãi nữa. Bao giờ cho đến…bao giờ?
Rồi thì những lo toan bộn bề cứ kéo chúng tôi đi. Tôi bù đầu với hàng đống công việc ở công ty, tối còn nhận việc về nhà làm để kiếm thêm thu nhập. Anh đi xa thành phố thường xuyên với các hợp đồng nhằng nhịt những con số. Thời gian ở bên nhau ngày càng ít dần, những câu chuyện về tương lai ngày càng đứt quãng. Nhưng tôi vẫn luôn thấy ấm áp vì bên đời còn có một bờ vai. Tôi chỉ lo sao kiếm được thật nhiều tiền gom góp, tiết kiệm để nghĩ về một đám cưới với hàng trăm món phải chi. Nào thì nhẫn cưới, nào thì chăn ga gối đệm, nào thì tiền cọc thuê nhà cả 1 năm trả trước… Những lúc công việc quá tải, mệt nhoài vì cơm áo nhưng chỉ cần nghe thấy tiếng nhau nói, nhìn thấy mặt nhau cười. Nghĩ đến một ngày không xa hai đứa dọn về chung một nhà là bao nhiêu mỏi mệt tiêu tan hết. Nhưng người ta thường nói cuộc đời đâu đẹp như một giấc mơ. Huống chi cái giấc mơ của chúng tôi đã vô cùng chật vật…
                                           * * *
Vào một buổi sáng nào đó thức dậy, tự nhiên trong lòng tôi tràn ngập một cảm giác bất an. Chúng xâm chiếm, ăn mòn từng ý nghĩ và nhịp thở của tôi. Ngày ấy, bằng linh cảm của một người phụ nữ tôi phát hiện ra anh đã thuộc về người con gái khác. Tôi gần như điên loạn, trái tim muốn vỡ vụn và tan biến. Tôi muốn lao ra đường trôi theo dòng chảy đi bất cứ đâu. Tôi sợ mọi người nhìn thấy sự đau đớn ê chề của mình. Sợ những ánh nhìn thương hại. Và trong một phút giây điên loạn tôi đã thậm chí đã muốn lao đến giết chết anh.
Tôi không nhớ nổi mình đã trải qua những tháng ngày khủng hoảng sau đó như thế nào. Trong tôi giờ chỉ còn là cảm giác ê ẩm sau một nỗi đau dài. Tôi đã rất cố gắng để có thể quên anh, nhưng dường như điều đó là quá sức. Tôi nhớ nhung, trách giận anh trong từng hơi thở. Mở mắt ra thấy mọi đồ đạc trong căn phòng, mọi con đường, mọi ngõ ngách đều in bóng dáng quen thuộc của anh. Tôi xin nghỉ việc một thời gian, cố gắng chìm vào trong những giấc ngủ kéo dài. Nhưng ngay cả trong cơn mơ, những kỉ niệm ngọt ngào cũng ùa về khiến tim tôi nghẹt thở. Tôi lao vào mớ công việc hỗn độn ngập đầu, làm đến vắt kiệt sức vậy mà hình ảnh về anh vẫn không thôi giày vò, ám ảnh. Tôi mới nhận ra mình còn yêu anh nhiều lắm!
Tôi giành giật anh về phía mình. Giống như cách những đứa trẻ con giành giật lại thứ đồ chơi vốn là của mình nhưng đang nằm trong tay kẻ khác. Những kí ức tốt đẹp, những năm tháng khó khăn gắn bó với nhau giờ thành cái cớ để tôi níu anh lại bên mình. Tôi hoàn toàn không quan tâm đến tình cảm của anh hay tôi cứ tự mặc định rằng anh còn yêu tôi lắm? Rằng anh sinh ra để thuộc về tôi và những phút giây lầm lỡ kia chỉ là những phút xao lòng, thoảng qua như cơn gió. Có lẽ tôi bắt đầu mất phương hướng từ khi ấy, nỗi đau khiến tôi mù quáng đến đáng thương. Tôi có giữ được gì đâu ngoài thể xác anh. Trái tim ấy đã mãi mãi thuộc về người con gái khác. 
Anh đi bên cạnh đời tôi giống như kẻ vô hồn, dù anh vẫn chăm sóc cho tôi từng chút một. Cứ tưởng rằng khi tôi nhận ra sự thật đó thì tự khắc tôi sẽ dời bỏ anh để giữ lại chút thanh thản cuối cùng cho con tim đã quá nhiều rạn vỡ này. Nhưng tôi cứ nuôi chút hy vọng mỏng manh rằng rồi anh sẽ tỉnh lại, sẽ nhận ra thứ tình yêu chúng tôi từng có với nhau quá đẹp đẽ. Những hình dung về tương lai mà tôi từng kì công tô vẽ đã đổ sụp như một trò chơi ghép hình khi chỉ cần sai một mảnh ghép vào đúng nơi quan trong nhất. Nhưng tôi sẽ cần mẫn ghép lại, chỉ cần anh vẫn đi bên cạnh tôi như ngày nào, như chưa hề có khổ đau.
                                           * * *
Tôi đã đi quá xa nơi cần đến. Đã đi qua cầu Chương Dương sang Gia Lâm hướng về phía đường quốc lộ 5 để tỏa đi các tỉnh lân cận. Tôi đã ý thức mình cần phải dừng lại, cần phải tìm nơi quay đầu gấp. Nhưng tôi vẫn không hề giảm ga, vẫn cứ trôi đi giữa dòng người vội vã. Chỉ đến khi một cơn mưa ập đến, mọi người xung quanh đều đã vội vã dừng lại mặc áo mưa. Cái lạnh của cơn mưa đang ồ ạt táp vào mặt khiến tôi bừng tỉnh, tự nhiên tôi thấy mình đơn độc đến cùng cực. Con đường nơi tôi đang đứng xa lạ và dài hun hút? Tôi cứ tự hỏi đâu là điểm dừng nếu tôi cứ trôi đi như vậy?
Tôi trở về phòng trọ trong bộ dạng ướt lướt thướt, co ro như con mèo nhỏ. Anh ngước lên nhìn tôi bằng đôi mắt lộ rõ vẻ mệt mỏi rồi im lặng. Tôi đọc được sự cam chịu trong đôi mắt ấy. Hơn cả cơn mưa lạnh tầm tã, hơn cả quãng đường đi lạc sáng nay, ánh mắt ấy đã khiến tôi không còn sức lực. Chỉ có một trái tim đập nhịp đập yêu thương thì làm sao có thể gọi là hạnh phúc? Chỉ có một người mang ước mơ vun vén thì làm sao có thể tạo thành một mái nhà mang tên tình yêu? Nếu chúng tôi cứ trôi bên nhau vô định thì làm sao có được một điểm dừng? Tôi đã đi lạc quá xa rồi, có lẽ đã đến lúc phải dừng lại, phải kết thúc.
Tôi bảo anh:
-Anh có thể ra đi được rồi. Em sẽ không níu anh thêm nữa.
Anh khóc. Tôi quay mặt vào tường để kìm lòng không chạy theo anh khi cánh cửa kia khép lại. Để rồi cứ tự hỏi “Sau khi đi lạc, sau khi quay đầu liệu người ta có còn đủ sức lực và sự minh mẫn để tìm thấy đúng đường? Hay là lại lạc sang một con đường khác?”. Qua ô cửa sổ mờ nước, thấy cơn mưa ngoài trời đã tạnh. Anh đi, chắc sẽ không ướt áo…


Vũ Thị Huyền Trang

Hậu chiến trường...




Tôi trở về nhà sau ba năm đi Malai làm ăn biệt tăm biệt tích, không thể kể hết nỗi vui mừng của dòng họ, gia đình khi nhìn thấy tôi vác balô lóc cóc phía đầu làng. Mẹ tôi gào khóc như trong nhà có tang thương, mẹ thắp hương khấn vái khắp nơi, đâu đâu cũng ngửi thấy mùi hương khói. Mẹ than:
-Ối bố ơi! Bố về mà xem, cuối cùng thì cháu nó cũng về nhà rồi ông ạ. Thôi thì ông thương con thương cháu, ông về ông bảo ban các cháu giúp vợ chồng con. Không phải tại chúng con không biết thương ông mà cũng chỉ vì giời bắt chúng con nghèo khó không có tiền đi tìm mộ ông về được. Thôi thì con sẽ đi chiêu hồn nhập mộ cho ông. Mong ông phù hộ độ trì cho các con, các cháu.
Tôi ngồi lặng cuối giường, mọi suy nghĩ đang rơi vào khoảng không trống rỗng. Tôi tiều tuỵ như thế này đây sau cái bồng bột của tuổi trẻ muốn được đổi đời, muốn thoát khỏi cảnh chân lấm tay bùn, quanh năm đầu tắt mặt tối như mấy đời nhà tôi, mấy đời của cái  làng quê bé nhỏ này. Ba năm đủ để  đời làm dập nát cuộc đời tôi, tôi trở về thấy quê mình đổi thay nhiều quá, tôi soi mình vào mảnh gương vỡ bé bằng bàn tay mà không còn nhẫn ra mình nữa. Tôi cũng đổi thay quá nhiều rồi, không còn là thằng trai tơ đôi mươi chưa va vấp cuộc đời như ba năm về trước. Mẹ tôi tóc đã bạc đi nhiều, đôi mắt trũng sâu hơn còn cha tôi thì ngày càng im lặng. Ngày tôi về cha không nói câu gì ngoài lúc ngồi trong bữa cơm có đông đủ anh em, họ hàng, cha không nhìn mà chỉ giục tôi “ăn đi” rồi ngồi tu rượu. Đứa em gái tôi đã lấy chồng, đứa cháu nhìn thấy tôi râu tóc để dài nó sợ, nó khóc thét lên rồi đái cả ra quần. Người ta thì cười còn tôi thấy cay cay sống mũi.
Ba năm. Thằng cháu đích tôn là tôi trở về nhìn lên ban thờ ông mà rơi nước mắt. Vẫn bức ảnh của ông từ rất lâu rồi bà tôi mang thuê người ta vẽ truyền thần, bây giờ trên ban thờ bám đầy mạng nhện và những hạt thóc lép từ hướng gió thổi vào, tôi thấy di ảnh ông dán đã nhấm mòn một mắt. Mắt bên phải, mắt gần tim, vết nhấm nhôm nhoam như vết đạn bắn toang hoác trên khuôn mặt của ông. Trong bữa cơm sum họp gia đình đứa cháu tôi nghịch ngợm, mẹ nó chỉ lên ảnh ông, thằng bé sợ tái mặt. Tôi hỏi:
-Sao mà cháu sợ?
Nó úp mặt vào ngực tôi bảo:
-Ngáo ộp đấy, bác ơi ngáo ộp.
Tôi cay lòng ôm đứa cháu nhỏ bé đang thút thít khóc, tôi muốn vùng dậy và đập phá. Đập phá bất cứ thứ gì để giải toả cơn ức chế đang dồn nén trong tôi. Tôi đang tức giận ai? Tôi đang giận em tôi? Hay giận đứa cháu bé bỏng của tôi? Hay tôi đang giận chính tôi, người con trai cả trong gia đình, người có trách nhiệm phải lo chuyện hương hoả tổ tiên sau này? Chỉ ba năm sau khi tôi dời bỏ quê hương ra đi mọi thứ trong căn nhà này đều trở nên hoang lạnh, sự hoang lạnh khiến con người ta xa dời nhau hơn, lảng tránh nhau hơn.
Đêm.
Tôi ra ngồi ngoài hiên với cha, cha im lặng khá lâu. Cha thở dài đuổi nỗi buồn vào mênh mông bóng tối, nhưng vầng trăng vẫn đổ trên mái tóc hoa râm chút tàn lạnh của đêm dài. Tôi muốn nói với cha thật nhiều rằng vì sao tôi lại quyết ra đi và vì sao trong ba năm ấy tôi biệt tăm biệt tích không một mẩu tin nhắn về nhà. Tôi muốn kể cho người đàn ông, cho chỗ dựa vững chắc của cuộc đời tôi về những tháng năm lưu lạc xứ người hàng ngày chỉ mong kiếm được miếng cơm sống cho qua ngày để tìm đường về với gia đình, tôi muốn nói với cha tôi rằng tôi nhớ ông nhiều lắm, người mà ba năm về trước vì sự nông nổi của mình mà tôi từng giận dỗi. Tôi còn muốn kể về những giấc mơ dẫn đường tôi trở về đây, giấc mơ có hình bóng một người đàn ông lạ, liệu đó có phải là ông nội tôi, người liệt sĩ đã ngã xuống trong cuộc kháng chiến chống mỹ của dân tộc? Nhưng hình như cha chỉ muốn tôi im lặng và ngồi bên cạnh ông như thế. Đêm ở quê tôi dài thật dài, dài như những đêm tôi nằm lạnh xứ người ngóng vợi…
                                         * * *
Tôi vẫn gặp một người đàn ông trong giấc mơ của tôi. Người ấy luôn giấu mặt, người ấy bảo tôi rằng:
-Cháu ơi! Sáng mai cháu đừng đi về phía ấy.
Sáng hôm sau tôi không dám mang rượu đi về phía tôi định đi, lũ bạn rừng hỏi: “Tại sao?”, tôi bảo “Thôi đừng đi, tao thấy nóng ruột”. Chúng nó cười: “Chết đói đến đít rồi còn bầy đặt”, bữa rượu hôm ấy bị cảnh sát bắt, những thằng đi bị tống tù. Tôi ngồi ngẩn ngơ góc rừng lòng hoang mang tột độ. Tôi không biết người đàn ông về trong giấc mơ đêm qua là ai? Tôi không biết rồi sẽ phải đi tiếp về hướng nào để sống, để kiếm được chút tiền mang về trang trải nợ nần? Tôi không biết phải bấu víu vào cái gì giữa rừng đại ngàn xứ lạ, nước độc, cây độc, lòng người cay độc. Tất cả cứ như con rắn lá màu xanh ẩn nấp và rình rập.
Đêm ấy và còn nhiều đêm sau nữa vẫn là người đàn ông ấy chỉ lối cho tôi đi, thoát ra khỏi hiểm nguy để rồi cuối cùng trở về bên đêm trăng thanh bình bản quán. Có lần trong giấc mơ của mình, tôi nghe thấy có tiếng súng rồi người đàn ông ấý thét lên một tiếng kinh hoàng. Đó là cái đêm trước hôm tôi trở về nước, cái đêm lòng tôi hoang mang cực độ. Đêm. Tôi không còn bấu víu vào được điều gì nữa, kể cả một giọng nói mơ hồ cũng đã biệt tăm. Tôi nhớ đến câu cuối cùng mà người đàn ông ấy nói với tôi:
-Cháu ơi! Mai cháu phải về thôi, cháu cứ thế này rồi sớm muộn gì cũng phải bỏ xác nơi này.
Tôi vội vàng tìm mọi cách trở về bằng số tiền ít ỏi của mình tích cóp được, bỏ lại những bữa đi buôn rượu lậu, bỏ lại cái cuộc sống người rừng như RobinSơn ngoài hoang đảo. Bỏ lại nỗi cô đơn nhiều lúc đến cùng quẫn, bỏ lại cái cuộc sống nửa người, nửa thú. Tôi đi theo tiếng gọi của người đàn ông lạ. 
                                         * * *
Mấy hôm sau ngày tôi về, mẹ tôi đón thầy cúng về thay bát nhang cho tổ tiên và hỏi chuyện chiêu hồn nhập mộ cho ông. Thầy cúng là một người đàn bà khoảng hơn ba mươi tuổi, người phốp pháp, ăn mặc giản dị nhưng mồm miệng lúc nào cũng nói về cái đại hạn nào đó của loài người sẽ đến vào năm 2010, tôi nghe đau đến điên đầu.
Bà tôi ngồi một mình dưới bếp khóc vụng, tôi xuống thấy bà đang vội lau nước mắt. Tôi hỏi:
-Bà thấy không khoẻ chỗ nào trong người? Sao bà lại ngồi đây khóc?
Bà lắc đầu, bà bảo:
-Mày cứ mặc bà, người già tủi thân thì khóc chứ có lí do gì đâu. Mày cứ lên mà lo việc chiêu hồn nhập mộ cho ông, dù gì mày cũng là cháu trưởng. Nghe bà, cứ lên nhà trên đi.
Tôi toan định bước đi nhưng nghĩ thế nào tôi mon men lại gần, ngồi thủ thỉ với bà, vì cũng đã lâu lắm rồi tôi không có dịp được gần gũi bà như ngày xưa nữa. Đôi lúc tôi cũng sợ nếu đến một ngày nào đó bà lại ra đi theo ông thì cái thế giới  cổ tích đầy tốt đẹp của ấu thơ tôi sẽ vụt tan đi mất.
-Bà ơi! Lúc cháu đi bà có nhớ cháu không bà?
Bà vỗ vỗ vào vai tôi, từ bé tôi vẫn thường được bà âu yếm theo cách ấy. Rồi bà chửi, bà chửi yêu cái thằng cháu giời giết của bà, thằng chết vùi, chết dập:
-Mày ác lắm, có phải nhà này để mày đói đâu mà mày phải bỏ đi biệt xứ. Đã thấy khổ chưa cháu? Mày đi ở nhà có bao việc đều đổ tội cho ông nội mày hết. Hễ tí là lại đi xem bói, người ta bảo tại ông mày hy sinh không tìm thấy xác nên về hành con cháu. Ờ đấy! Thế mà cũng đã gần bốn mươi năm sau ngày ông mày hy sinh, bốn mươi năm đâu phải chiến trường hả cháu?
Bà khóc.
Tôi lặng người đi theo từng tiếng nấc của bà, sự tủi thân của người già là vậy đấy sao? Trước kia lúc nào tôi cũng mong muốn rằng sẽ học hành thật tốt rồi sau này có điều kiện sẽ đi vào Nam tìm ông, đưa ông về với quê hương cho toại ước nguyện của bà. Thế mà tôi đã quên đi cái điều hứa nhỏ nhoi với chính bản thân mình. Bà tôi thì gần đất xa trời, cha mẹ tôi cũng đổ bóng về phía bên kia con dốc của cuộc đời, còn tôi sau ba năm bầm dập dường như vẫn thấy mình ngu ngơ lắm…
Tôi nhớ…
Vào cái ngày chú tôi vác dao cắt máu thề lìa bà và bố tôi rồi đi lên vùng cao theo vợ, còn một chú khác thì rượu chè, cờ bạc suốt ngày rồi về đánh đập vợ con. Cô tôi đi lấy chồng những tưởng được giàu sang, phú quý ai dè bị người ta lừa, người ta đi lấy vợ khác bỏ lại cô cùng đứa con ngỗ ngược không biết đường nào mà dạy bảo. Bà tôi suốt ngày hết tha thẩn ngoài vườn lại vào ngồi trước bàn thờ ông than khóc: “Ối ông ơi là ông, ông chết đi rồi sướng cái phận ông, ông bỏ lại mình tôi gánh cái nỗi đoạ đầy. Ngày xưa tôi bảo ông đẻ một, đẻ hai. Ông cứ muốn sinh năm, đẻ bảy làm gì để bay giờ khổ cái thân tôi. Con không ra đằng con, dể không ra đằng dể”. Những lúc ấy cha tôi ngồi một mình ngoài hiên lau nước mắt. Để đêm về lúc nào tôi cũng mơ thấy có một người đàn ông khóc, người ấy không phải là cha tôi. Có nhiều khi tôi giật mình nhìn di ảnh của ông, tôi sợ tôi đã gặp ông ở đâu đó mà lại không nhận ra ông. Tôi sợ ông buồn.
                                         * * *
Bà tôi kể…
“…Tuần nào ông cũng viết đều đặn một bức thư gửi về, ông hỏi về từng đứa con, từng người thân, từng trận bom nổ trên quê hương ai còn? Ai mất? Rồi ông kể cho bà nghe những con đường ông đi qua, những trận đánh ông từng chiến đấu…Cho đến bức thư cuối cùng bà nhận được của ông thì ông bảo ngày mai ông vào chiến đấu trong đường 9 Nam Lào. Từ đấy bà biệt tin ông. Người đưa thư không bao giờ rẽ vào cổng nhà mình nữa, cho đến một ngày…Người ta vào đưa giấy báo tử của ông”.
Bà bảo ông đã trải qua rất nhiều trận đánh, có những lần bức thư của ông còn dính vệt máu trên nét chữ run run. Nhưng chưa bao giờ ông kể về những nỗi đau mà ông gánh chịu hay những vết thương ông đang mang trên người. Ông chỉ kể cho bà nghe về chiến thắng, về niềm vui hay nỗi mong mỏi trở về. Bà bảo khi ông tôi hy sinh cô út mới vừa tròn hai tuổi, cô chưa một lần được ông hỗm bồng, chưa bao giờ được nhìn thấy mặt cha mình để kịp lưu lại chút ấn tượng gì. Thế nên lúc nào bà cũng thương cô út nhất. Sau này trong những lần ông trở về trong cơn mơ lúc nào ông cũng bảo ông thương các con các cháu, vì đứa nào cũng lận đận, đứa nào cũng  sống dở chết dở rồi mới nên người được. Bà thương ông, thương cuộc đời mình nên bà chỉ khóc. Ông bảo:
-Bà đừng khóc nữa, con người ta sinh ra có phúc phận cả rồi. Chỉ cần cố gắng hết mình, còn được đến đâu thì hay đến đó. Bà đừng suy nghĩ nhiều mà thêm khổ. Trong chiến tranh, tôi ra chiến trường nhà chỉ còn có mình bà, bà còn thay tôi nuôi mấy đứa con khôn lớn nữa là bây giờ. Thôi! Tôi xin bà, bà đừng khóc nữa.
Mỗi lần nghe bà kể về những giấc mơ cha tôi chỉ ậm ừ cho qua chuyện, cũng có đôi lúc cáu quá cha tôi gắt:
-Người sống còn chẳng ăn ai nữa là người chết. Chết đi rồi thì còn biết gì nữa mà than với khóc. Chết là thành giun, thành đất mà thôi.
Bà tôi khóc vụng, mắng vụng cha tôi: “Cha bố cái quân láo mồm. Bố nó  mà nó còn bảo thế đấy”. Những lúc ấy tôi bảo bà:
-Bà chấp gì bố cháu, lần sau ông về bà đừng kể với bố cháu là được. Bà cứ giữ ông cho riêng bà thôi. Bà nhé!
Bà lại cười:
-Cha bố nhà mày, bà già rồi còn giữ ông làm gì nữa. Mấy năm nữa thì bà cũng về với ông thôi
Tôi lại bảo:
-Còn lâu. Bà còn sống với cháu lâu lắm, bà cứ để ông sống dưới đó một mình cho thoải mái, thi thoảng ông còn gặp bạn bè, gặp đồng đội nhâm nhi rượu chè một tí. Bà chỉ mong xuống đấy để quản ông cháu chắc. Bà phải sống bên cháu lâu lâu cái đã. Bà nhỉ?.
Không ngờ bà lại khóc, bà bảo:
-Tao mặc xác chúng mày chứ, tao khổ cả đời rồi, bây giờ cũng đã đến lúc tao phải sống cho mình chứ. Tao chỉ muốn nhìn thấy thằng cháu đích tôn lớn khôn rồi lấy vợ mau mau. Lúc ấy tao nhắm mắt cũng được rồi.
Bà lúc nào cũng nói như đang hờn dỗi ai một điều gì đó, nhiều lúc tôi nghĩ người già cũng như những đứa trẻ con, lúc nào cũng cũng sẵn sàng bật khóc  chẳng biết vì những lí do gì. Người già sao mà mỏng manh, dễ vỡ…
                                         * * *
Trước cửa nhà tôi người ta bắt đầu san lấp ruộng rừng để đền bù cho những người bị mất đất trong dự án làm đường cao tốc lên biên giới. Máy ủi, máy cẩu chạy ầm ầm suốt ngày, bụi bám trong từng hơi thở, từng bữa ăn. Chưa bao giờ tôi lại thấy không khí ở quê mình trở nên ngột ngạt đến thế, bức bí đến thế. Chiếc mộ giả của ông mẹ mới mời thầy về chiêu hồn nằm đúng vào khoảnh đất trong dự án, cái máy cẩu mấy lần định dùng cái cần cẩu to toành để múc nên nhưng cha mẹ tôi đã kịp thời can thiệp. Lũ trẻ trâu thấy thế cười hô hố, chúng khua chân múa tay chạy theo mấy cái khối sắt di động khổng lồ, chúng bảo:
-Cứ múc cái mộ đi đi, người chết rồi còn biết gì là đau nữa đâu chú máy cẩu ơi!
Đứa khác lại bảo:
-Mộ giả đấy, mộ thật đếch đâu mà sợ.
Tôi dứ dứ quả đấm về phía lũ trẻ.
Nhưng chiều đó cả nhà tôi đi làm đồng vắng, mẹ tôi bảo làm cố nốt mấy buổi đồng rồi mẹ lại mời thầy về làm lễ di chuyển mộ. Thế mà ở nhà không hiểu lũ trẻ trâu đập phá hay cái máy cẩu đã làm mộ ông tôi vỡ nát. Bà tôi ôm mặt ngồi khóc cả buổi chiều, dỗ thế nào bà cũng không chịu về ăn cơm. Bà ngồi khóc hờ ông, bà bảo:
-Cứ thế này thì ông chết mấy lần hả ông? Còn tôi đau mấy lần hả ông? Đêm nay ông lại ở đâu?
Mấy đứa trẻ trâu đứng xung quanh cười khì khì, tôi cáu sườn tóm được đứa nào bạt tai đứa đấy. Tôi chửi:
-Về hỏi bố mẹ chúng mày xem thế nào là liệt sĩ?
Chúng nghe xong lại cười khì khì, chúng bảo: “Liệt sĩ thì cũng chết quách rồi”. Bà tôi càng khóc to hơn, tôi định dồn quật cho lũ trẻ một trận thì cha tôi ngăn lại. Ông bảo: “Chấp làm gì lũ nhỏ, chúng có biết chiến tranh là gì đâu mà chấp”.
Đêm.
Tôi nằm nghĩ vơ vẩn một mình mà thấy buồn vời vợi, chẳng hiểu vì sao lại buồn. Bỗng nhiên tôi nhớ đến giọng nói người đàn ông trong giấc mơ của tôi ba năm lưu lạc xứ người. Bỗng nhiên tôi thấy giọng nói ấy rất quen, như nó lẫn trọng của cha tôi và của cả bản thân tôi nữa. Bỗng nhiên tôi thấy vừa hoang mang vừa ấm áp đến yên lành. Trăng giữa tháng tròn vành vạnh, tôi ngóng ra ngoài hiên mong trú tạm vào chốn bình yên, tĩnh lặng của bóng đêm. Bỗng nhiên tôi nghe thấy đâu đó có tiếng khóc thút thít lẫn vào tiếng gió vừa chao nghiêng qua vườn chuối trước nhà, tôi vùng dậy, ngó qua ô cửa sổ, thấy bà tôi ngồi lẫn vào mảng màu tối sáng, bà ôm di ảnh của ông trên ngực. Tôi thấy bên mắt bị dán nhấm của ông có vệt nước đục ngầu.
Tôi nhìn ra cánh đồng trước mắt, nơi mảnh đất đang được san bằng kia rồi sẽ mọc lên những nóc nhà san sát, rồi sẽ che khuất cả tầm nhìn dài rộng. Rồi chẳng biết sẽ có những đêm trăng ngan ngát hương cau bình yên nữa hay không…Lòng tôi chợt gợn những đợt sóng buồn. 


Vũ Thị Huyền Trang

Đừng buông tay...



Đừng bao giờ buông tay nhau thêm một lần nữa

Anh gọi cho chị vào lúc 12 giờ đêm chỉ để nói với chị rằng anh sẽ đi lấy vợ dù tình yêu đối với chị vẫn còn sâu nặng lắm. 12 giờ đêm, trong xóm quê nghèo, chị khóc òa giữa bao nhiêu nỗi niềm cay đắng. Những ngày chị rời bỏ anh thì anh tìm mọi cách níu lại tình yêu trong chị. Đến ngày chị quyết định sẽ không bao giờ buông tay anh thêm một lần nào nữa thì tự anh lại muốn dời xa chị. Tình yêu đâu phải là chò chơi trốn tìm thuở nhỏ?
Anh hơn chị mười tuổi, đã qua một đời vợ, ngoại hình nhìn qua thấy xấu nhìn lâu cũng không thấy duyên, tính tình thật thà có phần hơi cục mịch. Anh làm chủ thầu các công trình xây dựng ở thành phố Nam Định. Nhờ người quen chị xin vào làm chân nấu nướng cho dân công trình của anh. Thế rồi quen nhau, yêu nhau lúc nào không biết. Nhiều lúc chị bảo:
-Anh vừa xấu vừa già, sao em lại yêu anh nhỉ? Hay là anh bỏ bùa em đấy, nếu anh bỏ bùa thật thì giải bùa cho em với. Để em còn về với mẹ, lấy tấm chồng quê cho yên phận.
Anh cười bảo có bùa thật thì đã sao, sẽ chẳng bao giờ anh chịu rời xa chị.
Nhà chị nghèo, vì nghèo nên chị không được theo đuổi ước mơ trở thành cô kỹ sư nông lâm, mà phải đi làm sớm lấy tiền giúp đỡ gia đình. Quê chị tận trên miền ngược, thu nhập chỉ nhờ vào rừng chè và ruộng đất cằn, mà chè thì bấp bênh nay giá này mai giá khác. Nhà chị lại đông anh em, tuy không phải là con cả nhưng mọi công việc lớn bé trong nhà chị đều phải chung tay gánh vác. Học xong cấp ba, đi làm được năm năm mà ước mơ thuở nào vẫn không nguôi cháy trong lòng chị. Có nhiều đêm, chị mơ thấy mình đứng giữa bạt ngàn màu xanh của núi rừng quê hương. Trên mảnh đất cằn cỗi mẹ vẫn trồng sắn hàng năm sẽ thay một giống cây mới, đạt giá trị năng suất cao cho đời sống người nông dân quê chị thêm no ấm. Từ bé, chị đã rất đỗi yêu thương quê hương, càng yêu thương càng quặn lòng khi thấy quê mình nghèo quá. Nghèo là bởi đất đai khô cằn, là người nông dân không dám thay đổi cây trồng, không có vốn đầu tư, không thử nghiệm. Đã có lúc nghĩ đến những khó khăn trước mắt, chị không ít lần liên tưởng đến hình ảnh con thuyền rách nát và khát vọng vươn tới biển khơi. Nỗi khát khao ấy còn lớn hơn cả tình yêu chị dành cho anh.
Khi đã kiếm được ít vốn, khi kinh tế gia đình cũng đã tạm ổn, chị quyết định vừa làm vừa ôn thi Đại học. Anh bảo sẽ nuôi chị học, nuôi đến khi nào chị tự đứng được trên ước mơ của mình. Chị cười, trách anh sao chưa gì đã tính chuyện nuôi nhau.
Ngày chị đỗ Đại học cũng là ngày chị dẫn anh về nhà ra mắt. Bố nheo mày hỏi:
-Chú nào đây con?
Mẹ thở dài nói nhỏ con gái:
-Đừng bảo với mẹ là mày yêu người này. Còn trẻ đẹp, thiếu gì người mà đi yêu người hơn mình cả mười mấy tuổi hả con? Giàu cũng không ham con ạ.
Chị ôm mẹ nũng nịu phân trần:
-Anh ấy cũng đâu có già và xấu quá. Anh ấy tốt là được rồi mà mẹ, hơn nữa mẹ chẳng từng bảo yêu người hơn tuổi cho già dặn, chín chắn đấy thôi ạ.
Mẹ thở dài:
-Cô đến tuổi này cũng là già dặn lắm rồi. Mà đã tìm hiểu kĩ chưa, bằng này tuổi rồi có khi người ta có vợ ở quê rồi cũng nên, cứ đâm đầu vào rồi lại tự làm khổ mình thôi con ạ.
Người làng ai hiểu thì chậc lưỡi bảo “thôi thì cái duyên cái số nó vồ đến nhau chứ biết làm thế nào được”. Người thì bảo “chắc con bé bị bỏ bùa mê thuốc lú. Rõ khổ”. Những lời nói ấy đều đến tai anh, nhưng anh không nói gì, vẫn vui vẻ nói cười mỗi lúc được gần chị. Thi thoảng vẫn bỏ công việc sang một bên để đưa chị về miền ngược, nơi chị bắt đầu cặm cụi với từng hòn đất. Chị bảo “đất nghèo nhưng vẫn có thể làm giàu được”. Anh thấy thương chị nhiều hơn. Đã không ít lần vì sức ép gia đình và khoảng cách quá xa mà chị tính đến chuyện chia tay, nhưng anh vẫn khẳng định tình yêu của mình dành cho chị bằng những vỗ về yêu thương lúc vui buồn. Để rồi chị nhận ra rằng anh cũng giống như một phần ước mơ của chị, cái mầm hạnh phúc bé nhỏ ấy cũng cần được nâng niu.
Chị ra trường, nhận công tác ở quê, cũng là lúc mẹ anh lâm bệnh nặng. Ước muốn cuối cùng của mẹ là nhìn thấy anh tìm được hạnh phúc cho mình bằng một dám cưới có đông đủ anh em, họ hàng chứng kiến. Mẹ bảo chị:
-Nhà chỉ có một mẹ một con nên mẹ muốn sau này Hùng và con về đây sống còn thắp hương cho bố mẹ, tổ tiên. Kinh tế cũng đầy đủ rồi, con về đây bán hàng, sinh con rồi coi sóc nhà cửa, đất đai. Chứ mẹ không muốn Hùng lên quê con ở mà cũng không muốn vợ chồng con mỗi đứa một nơi. Nếu con thuận lời thì về làm dâu nhà mẹ.
Chị nắm bàn tay gầy guộc của người đàn bà đã hy sinh cả đời để chăm sóc cho người chị yêu thương. Bàn tay đã lạnh đi nhiều vì mưa nắng, vì nỗi cô độc của người già và vì sự héo hắt chờ đợi người con trai yên bề gia thất sau một lần đứt gánh giữa đường. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để chị mủi lòng. Nhưng ước mơ ươm mầm xanh cho quê hương vẫn chưa làm được, đất cằn cỗi vẫn bạc màu nghèo đói. Và…liệu chị có được vượt qua được những rào cản gia đình để đến với anh?
                                           * * *
Anh ngồi bên mẹ, nghe hơi thở yếu ớt đều đều như những tiếng thở dài của mẹ. Anh là đứa con duy nhất mẹ mang nặng đẻ đau, gắng gượng nuôi anh khôn lớn ngay cả khi bố đã mất, bao nhiêu khó khăn đè lên đôi vai bé nhỏ của mẹ. Ngày anh lấy vợ, mẹ khóc vì mừng vui con đã yên bề gia thất, nhưng nào ngờ cái hạnh phúc nhỏ nhoi ấy của mẹ anh cũng không thể gìn giữ được. Nàng dâu đầu tiên của mẹ ra ra đi mang theo một bí mật mà mẹ không hay biết. Con trai mẹ mắc bệnh vô sinh. Từ ấy đến giờ mẹ vẫn giục anh mau mau lấy vợ để mẹ còn bế cháu. Anh cứ ậm ừ cho qua chuyện vì không muốn mẹ thêm lo lắng. Cho đến bây giờ, khi nhìn mẹ nằm đây vẫn không yên vun vén cho anh, tự nhiên anh thấy có lỗi với mẹ thật nhiều.
Bác sĩ nói mẹ không sống được lâu nữa, tuổi già sức yếu lại thêm bệnh cao huyết áp lâu năm. Tuổi trẻ anh đi tứ xứ giang hồ, đến lúc đứng tuổi rồi quay trở về bên mẹ thì nhận ra mẹ vẫn gần đây mà lại như bóng mây bay ngang qua cuộc đời rồi tan vào hư vô. Trong những ngày chăm sóc mẹ tại bệnh viện, anh đã phải suy nghĩ rất nhiều. Mẹ nói hạnh phúc lớn nhất đời mẹ là có anh, cũng vì có anh trên đời nên mẹ đã vượt qua tất cả những sóng gió cuộc đời. Càng thương mẹ bao nhiêu anh càng nhận ra tình yêu của mình dành cho chị là ích kỉ. Suốt gần chục năm yêu nhau, anh chưa từng khi nào dám thú nhận với chị rằng anh không thể có con. Cũng chính vì chạy chữa khắp nơi không khỏi mà người vợ đầu đã bỏ anh đi. Anh sợ nếu nói ra chị cũng sẽ dời bỏ anh như thế. Anh cứ nghĩ đơn giản rằng nếu trong nhà cần tiếng trẻ con thì chỉ cần đi xin một đứa nhỏ về nuôi, nhưng có lẽ anh đã không hiểu được sự gắn kết thiêng liêng bền chặt của tình máu mủ ruột già. Những điều ấy có lẽ chỉ những người phụ nữ mới hiểu và họ cần có nó như cần một bờ vai, một mái ấm gia đình.
Anh nhớ đã từng có lần hỏi chị:
-Ngoài ước mơ trở thành cô kĩ sư nông lâm, mang màu xanh trù phú đến cho quê hương em còn mơ ước gì nữa không?
Tay chống cằm, gõ nhẹ những búp mang lên gò má chị bảo:
-Em muốn lập gia đình để sinh những đứa con ngoan. Em thích tiếng trẻ con, thích được chăm bẵm, vỗ về, hôn hít chúng.
Rồi chị thở dài bảo giá như chị có thể thực hiện được được những điều tốt đẹp mà mình mơ ước. Ngay lúc ấy anh đã chạnh lòng nghĩ rằng mình không thể là bến đỗ cuộc đời của chị. Cho đến ngày hôm nay khi mẹ anh cần một nàng dâu, chị cần một mái ấm đủ bền vững để theo đuổi ước mơ của mình thì việc anh cần chị dường như đã là điều không thể. Anh tự hiểu được anh không có quyền giữ chị lại cho riêng mình nữa. Chị thuộc về những người dân nghèo ở miền quê ấy, thuộc về mảnh đất khô cằn đang chờ bàn tay người ươm mầm, tưới tắm. Và chị còn thuộc về tiếng cười của những đứa con do chị sinh ra, chăm bẵm chúng. Chính vì thế nên anh gọi cho chị để nói rằng anh sẽ đi lấy vợ. Lúc ấy kim đồng hồ trên tường chỉ đúng 12 giờ đêm, tiếng mẹ anh thở đều nhưng mong manh, yếu ớt. Khẽ gục mặt vào hai bàn tay. Anh khóc.
                                         * * *
Người nông dân đã bắt đầu ươm cây cho dải rừng bao quanh làng. Trung du có phần lớn diện tích là đất feralit trên đá phiến, đá vôi và các đá mẹ khác. Nơi đây có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, có mùa đông lạnh, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện địa hình vùng núi. Vốn có thế mạnh đặc biệt để phát triển các cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới, ngoài cây chè chị quyết định đưa xoài, nhãn vải, đu đủ vào trồng thêm và đưa cây keo, cây tràm trồng trên những dải đồi cao hơn. Ban đầu chị áp dụng trên đồi nhà mình và phần đất để khô cằn lâu năm của bà con chòm xóm. Công việc mới chỉ dừng lại ở bước đầu, còn biết bao nhiêu khó khăn trước mắt. Chính vào lúc này chị cần anh ở bên cạnh biết nhường nào. Vậy mà…
Chị đã 28 tuổi. Ở cái tuổi ấy con gái chưa lấy chồng được coi là gái lỡ thì. Dân làng đồn ra đồn vào nói “hồng nhan thì bạc mệnh”, mẹ chị thở dài mỗi đêm đến héo hắt ruột gan. Cũng chỉ yêu anh, tin anh mà chị dành trọn trái tim mình suốt gần chục năm trời. Bây giờ anh nói một câu chia tay, bỏ lại chị ngồi đây với nỗi buồn khi tuổi xuân đã ở lại sau lưng. Chị đã chấp nhận anh như đã từng chấp nhận những mơ ước và khó khăn của cuộc đời mình. Nhưng chính anh lại là người dời xa chị. Anh nói vì anh không thể có con, không mang đến hạnh phúc cho chị được. Vậy mà anh đã níu kéo chị suốt mười năm. Muốn giận anh, muốn quên ngay anh và đi tìm hạnh phúc mới cho mình nhưng tại sao con tim cứ nhu mì, cứ gọi tên anh mãi…
Đêm nay, chị muốn đi tìm anh, muốn một lần nữa níu tay anh lại. Cho dù anh nói rằng sẽ đi lấy vợ thì chị vẫn muốn đi tìm anh. Bởi tình yêu của chị dành cho anh lớn lao hơn cả những khó khăn, xa cách. Gần mười năm thương nhau đâu phải ít ỏi gì mà sao bỗng nhiên đêm nay anh lại buông tay chị. Chỉ cần nắm chặt tay nhau thôi là được rồi. Nếu chị tìm được anh lần này, chị sẽ bảo anh “đừng bao giờ buông tay em thêm một lần nào nữa”.
Chỉ cần nắm chặt tay nhau thôi là được... 
                                                                HN 11- 2010

                                                         Vũ Thị Huyền Trang