Showing posts with label truyện tình yêu. Show all posts

Giấc mơ độc mộc…


Những dấu chân tuổi trẻ em qua
Hoa cũng sẽ vì em mà thắm…

Tôi tưởng tượng ra dấu chân nơi em từng đi qua còn in lại hình những chiếc thuyền độc mộc. Mà ở đó tràn ngập sắc nắng hương hoa được thả trên chòng chành xúc cảm. Tâm hồn tôi từng neo đậu ở đó những tháng ngày dài để ước ao, nuối tiếc dù tôi và em chẳng thân thiết nhau là mấy. Em học dưới tôi vài lớp, khi tôi tốt nghiệp thì em đi du học nước ngoài. Em chọn Pháp là nơi kí gửi một phần tuổi trẻ với những làng hoa, những con sông, những cánh đồng đẹp như cổ tích. Còn tôi đã chọn em để gửi giấc mơ thầm kín của mình. Giấc mơ vượt thoát khỏi căn phòng chưa đầy mười mét vuông giữa nơi chỉ thấy tắc đường, thực phẩm độc hại và giá đất ảo đến xa xẩm mặt mày.
Em có cái tên đẹp như thơ và gợi nhiều hoài niệm nhưng tôi thích gọi em là V. Giống như mật mã giấc mơ mà tôi đang giấu kín. Em không đẹp nhưng em mang khuân mặt của một kẻ lãng du bụi bặm sương gió dặm trường. Chỉ nụ cười là đủ ấm áp cho những mùa đông lạnh giá ở xứ người. Tôi cũng có một nụ cười như em nhưng dường như nó được đính sẵn trên môi để làm vật trang trí cho vui mắt người đời. Bởi tôi chỉ giữ lại cho mình niềm khắc khoải khôn nguôi trong đôi mắt. Người ta gọi tôi là Rêu, giống như cách người ta gọi em là Cá, gọi một vài sắc trẻ là Mục, là Keng, là Gió… Những thanh âm ấy rơi xuống giữa vời vợi đời sống để rồi rất dễ bị chìm nghỉm, bị nuốt trọn trong cái xô bồ. Tôi cũng bị rơi như thế bỏ lại vài cái sủi tăm rồi chìm hẳn. Tôi mừng vì em đã ngoi lên, bơi về phía đại dương một mình một bóng cá chim trời. Vừa thong dong vừa nỗ lực. Nhỏ nhoi nhưng đầy kiêu hãnh…
Tôi ngủ trong giấc mơ của V khi lần đầu tiên em đặt chân đến làng Beuvron-en-Auge. Đó là một trong những ngôi làng xinh đẹp nhất vùng Normandy nước Pháp mà tôi mới chỉ biết qua sách báo. Tôi thích những giỏ hoa được treo ở khắp nơi trong làng, từ hiên nhà, balcon, dọc hai bên hè đường, thậm chí hoa lả lơi treo dọc bờ các dòng kênh. Kiến trúc cổ kính với mái ngói màu rêu, những ô cửa sổ nhỏ kề nhau bên ống khói nhô lên bầu trời xanh thẳm. Em bước đến đó đứng lẫn trong trong một thế giới sặc sỡ sắc hoa. Đã có lúc tôi giật mình vì tưởng đã mất dấu em trong một thảm hoa nào đó. Giống như tôi đã từng mất dấu đứa em gái út của mình cách đây mười  năm trước…
                                           * * *
Em gái út của tôi cũng bằng tuổi V, có đôi mắt trong tựa nước hồ thu. Khi út ba tuổi, út hay nhìn lén mỗi khi tôi ngồi đan cót. Khi út sáu tuổi, sáng nào tỉnh giấc tôi cũng thấy em nằm im nhìn tôi chăm chú chớp chớp hàng mi cong vút. Tôi bảo:
-Sao út cứ nhìn chị hoài vậy?
Út nhoẻn cười lộ hai núm đồng tiền xinh xắn, rúc đầu vào nách chị thỏ thẻ khiến tôi phải bật cười.
-Vì chị bé đẹp.
Cả nhà cười út sáu tuổi mà biết khen chị đẹp. Út cũng cười bảo “thương chị bé nhất nhà”. Những ngón tay út mềm và đẹp thường nghịch ngợm mái tóc dài của tôi. Tôi thích mỗi lần út dụi mặt vào mái tóc tôi rồi cười sặc sụa. Út khen tóc chị bé mượt đen gội lá hương nhu thơm mát. Những lúc không quấn quýt tôi như một chú mèo con, út thường lẻn đi chơi đâu đó nhiều hôm quên cả đường về. Khi thì là cánh đồng mùa cạn, dọc những bờ cỏ xanh non là bạt ngàn hoa dại li ti nở, li ti thắm, li ti ngát hương trời. Út thích nhất hoa me cạn tím ngát, em nhảy chân sáo hát líu lo thi thoảng lại dừng lại chạm  những ngón măng xinh vuốt ve một bông hoa.
Vào mùa hè em thường trốn lên rừng thoắt ẩn thoắt hiện trong những búi hoa mua tím. Chơi chán út nằm xuống cỏ ngủ quên, để mỗi lần tôi tìm thấy em đều ngỡ ngàng trước một cảnh tượng rất đỗi êm đềm. Trông út giống như một cô công chúa nhỏ hồn nhiên ngủ giữa rừng hoa. Cảnh tượng đó gợi cho tôi niềm xúc động, là nỗi an ủi vỗ về tôi qua những ngày tháng vất vả, nhọc nhằn khi đó. Giữa những khuân mặt người lầm lũi lúc nào cũng chỉ nghĩ đến việc làm sao thoát khỏi cái đói, làm sao kiếm được miếng ăn, làm thế nào để trả được nợ đọng lãi cao. Thì út giống như một thanh âm trong trẻo vút lên khỏi cái nền ảm đạm ấy.
Năm tôi mười ba tuổi, tôi bắt đầu nghĩ về những chuyến đi. Kỉ niệm rõ rệt nhất còn đọng lại trong tâm trí tôi là sân ga lúc chiều tàn tôi vẫn thường ra chờ đón hàng bố gửi từ miền xuôi lên. Nghề đan cót không đủ nuôi sống cả gia đình nên bố phải đi bốc vác cho các bến xe, nhà ga dưới thành phố. Sau này nhờ quen các mối hàng, bố lấy hàng khô gửi về cho mẹ mở thêm quán tạp hóa nhỏ xíu bán kiếm đồng ra đồng vào còn lo ăn học cho cả một đàn con. Thế là cứ cuối tuần tôi lại ra sân ga ngồi nhìn những chuyến tàu xuôi ngược. Âm thanh tiếng còi tàu va vào kí ức vang vọng, hun hút, xa xăm... Tôi cũng thích những ô cửa sổ của đoàn tàu, qua tấm lưới sắt là nhiều đôi mắt đang dõi nhìn về phía sân ga. Tôi tưởng tượng họ đến từ một thế giới xa xôi nào đó, nơi mà tôi chưa từng biết đến. Tôi nhìn theo đoàn tàu xình xịch trôi xa, nhìn những con người ngồi trên đó với ánh mắt thèm muốn và ngưỡng mộ. Tàu đi rồi chỉ còn lại sân ga buồn, lá bàng rơi đỏ thẫm cả chiều tàn…
Út có theo tôi một vài lần ra sân ga chờ hàng của bố. Em hỏi tôi:
-Nếu mình lên tàu thì tàu sẽ chở mình đến tận đâu chị bé ơi?
-Xa lắm!
-Thế bố cũng ở đó đúng không chị bé? Mà ở đấy chắc là đẹp lắm… Mai này lớn lên nhất định em sẽ đến đó. Chị bé có muốn em cho đi cùng không?
Tôi cười, cõng út nhảy tênh tênh trên sân ga. Đó là những buổi chiều đẹp và chúng tôi thường trở về nhà khá muộn. Mẹ đôi khi quở trách vài câu nhưng không hỏi han nhiều. Mẹ không biết rằng trong khi mình đầu tắt mặt tối lo xoay sở kiếm sống thì trong đầu đứa con gái lớn đang loay hoay tìm cách chạm vào những chuyến đi…
                                                    * * *
V bắt đầu những chuyến đi xa hơn cả nước Pháp hoa lệ, bỏ lại kinh đô ánh sáng sau lưng. Nhờ hiệp ước tự do đi lại của một số nước Châu Âu, V bắt đầu đi tham quan nhiều nước trong khu vực Schengen. Sau những ngày làm việc mệt nhoài, tôi trở về phòng trọ lặng lẽ theo dõi từng cập nhật của V trên facebook. Tôi có cảm giác như mình đã đặt mua một vé tàu điện ngầm từ Pari đến thủ đô Amsterdam của Hà Lan. Tôi tưởng tượng ra mình đang ngồi vào chiếc ghế trống ngay bên cạnh V giống như người vô hình. Khi tàu chạy dưới đường hầm, V ngồi dựa người vào ghế, nhắm mắt thư thái nghe nhạc. Tôi sẽ ngắm nhìn thật kĩ khuôn mặt em, tưởng tượng ra từng đường nét của gió, của mây, của sắc màu nghìn hoa nơi em qua đều in dấu trên khuân mặt ấy. Tôi rất muốn nắm lấy bàn tay bé nhỏ của em, những ngón măng nâu màu nắng gió, như xưa từng nắm lấy bàn tay của út. Có lẽ em đã ngủ, một bản sonate buồn nào đó đã đưa em bước vào mảnh đất xa lạ trong những giấc mơ. Tôi cũng ngồi ngả người, nhắm mắt im nghe từng hơi thở nhẹ như dấu chân của gió của em… Và lúc này tôi tưởng như ngồi bên tôi là út. Giống như ngày xưa út hứa, khi lên tàu đi bất kì đâu út cũng sẽ mang tôi đi cùng. Chúng tôi đang đến Amsterdam, có lẽ út thích được ngồi du thuyền lặng lẽ ngắm thành phố có lịch sử đồ sộ nhất Châu Âu đang hiện ra dọc hai bên bờ sông thơ mộng.
Tôi cảm nhận rất rõ nước mắt mình đang rơi khi tôi thấy bàn tay nhỏ nhắn của út đã tan chảy trong bàn tay tôi lạnh buốt. Giống như ngày nhỏ, trời mưa đá tôi đã lao ra sân cố cầm chặt một viên đá trắng muốt để giữ nó mãi mãi cho riêng mình. Nhưng rồi viên đá ấy đã nũa dần trong tay tôi đến khi chỉ còn là vệt nước lan khắp các kẽ tay. Đấy là lần đầu tiên tôi khóc vì cảm giác mất mát, hụt hẫng cứ tràn ngập trong lòng. Khi đó tôi đã bắt đầu mơ hồ cảm nhận được rằng không phải thứ gì mình thích cũng có thể nắm chặt được. Khi đó lần đầu tiên tôi biết rằng đá cũng có thể tan chảy được. Cuộc sống khi nó mang đến một khám phá thú vị thì cũng đồng nghĩa nó đang dạy ta chừa chỗ cho những khoảng trống vốn không thể lấp đầy…
Tôi để tuột tay út vào ngày tôi trốn nhà lên tàu đi tìm bố. Thực ra việc đi tìm bố chỉ là cái cớ giúp tôi đủ mạnh mẽ rời khỏi sân ga chiều muộn để bước lên tàu. Trí tưởng tượng về những chuyến đi đã thôi thúc bước chân tôi đi hoang. Cuộc sống nghèo nàn, đơn điệu mỗi ngày ở miền quê bé nhỏ khiến tâm hồn thơ dại của tôi căng cựa. Hằng đêm tôi hay ngồi một mình ngoài hiên, thấy mẹ đi qua lại miệng lẩm bẩm tính từng đồng lỗ lãi mà thèm mẹ dừng lại quở mắng tôi một câu cho đỡ tủi. Nhưng dường như một bờ vai gầy coi sóc bốn đứa con đã làm mẹ mệt nhoài. Nên chỉ cần chúng mạnh khỏe và được đến trường là mẹ vui rồi còn chúng nghĩ suy những gì mẹ không thể biết. Thiếu đi sự chở che của bố, cái vỗ về của mẹ cùng những buổi chiều muộn ngồi đợi tàu trong sân ga. Tôi đã bắt đầu cho một chuyến đi dài của cuộc đời mà chưa biết khi nào mới thực sự kết thúc…
Chuyến đi hôm ấy giống như một giấc ngủ dài nhiều mộng mị mà tôi ước mình đừng bao giờ tỉnh giấc. Tôi không nghĩ mình phải trả giá nhiều đến thế. Khi tôi còn chưa kịp biết gì về vùng đất mới nơi vừa đặt chân đến thì tôi đã đánh mất linh hồn mình trong đôi bàn chân bé nhỏ của út. Tôi đi, út một mình ra sân ga tìm chị. Không biết có phải tại những bông hoa me cạn nở tím tái sân ga. Hay tại vì em mường tượng thấy hình ảnh tôi lấp lóa trên những toa tàu khiến đôi bàn chân bé nhỏ ấy líu ríu không kịp tránh đoàn tàu đang vào ga. Út bị tàu hất tung ra, tai nạn khủng khiếp ấy cướp đi đôi chân của út còn đầu óc thì lúc tỉnh lúc điên. Tôi trở về sau chuyến đi hoang ấy và bắt đầu những tháng ngày dài sống trong nỗi giày vò câm lặng…
Những lúc tỉnh táo út thường hỏi tôi:
-Điểm dừng cuối cùng của chuyến tàu ấy là ở đâu?
-Xa lắm!
-Ở đó chắc là nhiều hoa đẹp lắm phải không chị bé?
-Chị đã không nhìn thấy bông hoa nào ở đó.
Út nghiêng nghiêng nhìn tôi như thể không muốn tin rằng ở một vùng đất mới xa xôi lại chẳng có điều gì thú vị. Tôi nhìn vào đôi mắt đen láy hồn nhiên của út cảm giác như đang bị hút xoáy vào một thế giới khác. Thế giới  của những giấc hoa tràn ngập sắc màu. Cho đến khi út chớp hàng mi cong, khép lại đôi mắt đen láy và trả tôi về với thế giới thực tại thì những cánh hoa bay vẫn ám ảnh từng suy nghĩ của tôi. Út dần lớn lên bằng những buổi chiều ngồi trong nhà ngóng hoàng hôn qua cửa sổ. Tôi đã trồng rất nhiều hoa trong vườn, để lúc nào út cũng thấy một cảnh tượng tươi đẹp đang ngập tràn xung quanh em. Nhưng có lần út bảo em không thể nào chạm vào những bông hoa ấy được, mỗi lần em chạm tay vào thì sắc hoa đều tan chảy. Sau này tôi hay bắt gặp út ngồi ngồi hướng ra cửa sổ và nhắm chặt mắt. Em bảo chỉ có cách đấy mới giúp em có thể chạm vào thế giới các loài hoa, ngửi thấy mùi hương thơm lan tỏa trong nắng mới. Thi thoảng em lại mở mắt hoảng hốt gọi “chị ơi!” như thể em sợ tôi lại bỏ rơi em thêm lần nữa…
Đêm. Khi chúng tôi nằm bên nhau, út hay nói về những giấc mơ. Mơ thấy mình mặc bộ váy trắng bay lên nền trời xanh thẳm. Trên trời gió rất mát, dưới đất cỏ rất xanh, em lướt qua từ vùng đất này đến vùng đất khác, từ bình minh đến hoàng hôn. Tôi hỏi út nhìn thấy những gì? Em bảo nhìn thấy con tàu mà chị từng đi. Thấy ánh mắt chị lấp lánh niềm vui. Tôi lại hỏi út còn nhìn thấy thêm điều gì nữa? Em cười ỏn ẻn bảo còn nhìn thấy chính em chiều đó ngồi chờ chị ngoài ngõ đến tối mịt. Tôi hỏi em có khóc không? Em không trả lời dụi mặt vào lòng tôi như con mèo nhỏ. Nhưng tôi thì biết mình đang khóc…
Năm mười sáu tuổi, sau một đêm út bảo “Chị có thể mang em đi xa được không?” rồi nằm im trong vòng tay tôi ngủ ngon lành. Sáng ra em không tỉnh lại để ngắm xác hoa rụng rơi ngoài cửa sổ. Đêm trước bão to gió lớn những hàng hoa đã tan hoang. Bão cũng đã quật tả tơi trái tim tôi suốt những mùa dài khi không còn em bên đời nữa. Từ đó tôi bắt đầu rơi vào trạng thái chênh vênh, sống co mình trong chiếc kén buồn đau mà không cách nào thoát khỏi. Trong cái kén ấy, tôi loay hoay nhìn xung quanh mình và bắt đầu cảm thấy sợ hãi nếu một ngày nào đó bên cạnh tôi không còn ai thân thương nữa. Nó cũng giống như những tia sáng lấp ló cuối cùng đang chiếu vào chiếc kén ấy bỗng dưng vụt tắt. Sẽ là một thế giới tối tăm không lối thoát. Tôi bắt đầu vùng vẫy, căng cựa để nắm chặt thứ ánh sáng diệu vợi ấy. Đến lúc này tôi mới biết mình yêu gia đình nhiều đến nhường nào. Tôi không bao giờ còn muốn bước chân lên bất cứ chuyến tàu nào để phải rời xa họ nữa. Tôi không còn dám nghĩ về những chuyến đi… cho đến khi tôi gặp được V.
                                              * * *
Gần đây nhất, tôi gặp V đang lang thang trên cánh đồng hoa lavender ở vùng Luberon nước Pháp. Em đi đôi giày vải, mặc một bộ váy trắng, trên đầu đội chiếc mũ rộng vành nhiều màu sắc. Trông em giống một cây nấm nhỏ di động đang bước chậm rãi, ngửa cổ hít thật sâu bầu không khí của miền quê trong lành nơi đây. Tôi đã từng nghe nhiều về những ngôi làng một nghìn năm tuổi đầy mộc mạc, tinh tế với sức hút diệu kì. Với những con đường màu nâu vàng nhạt, những vách đá màu đỏ, những vườn cây ăn trái sum suê và góc chợ quê bán đầy hoa lavender khô bó thành từng bó nhỏ. Trong một quãng đời nào đó của tuổi trẻ, tôi đã từng ao ước giá có một cơn gió, một phép màu nào đó thổi cuốn tôi đi rồi thả xuống giữa cánh đồng hoa lavender biếc tím.
Tôi cứ đi theo V lặng lẽ như một chiếc bóng. Rồi dừng lại trên sườn đồi một ngôi làng nhỏ. Tại đây tôi ngồi dựa vào vào một gốc cây, mải miết ngắm nhìn V đang ùa xuống cánh đồng hoa tím bằng tất cả niềm vui sướng, thỏa thuê và nông nổi. Bây giờ đang là cuối tháng tám, những cánh đồng hoa lavender đồng loạt khoác lên mình chiếc váy dịu dàng màu tím. Giữa bạt ngàn sắc tím đó tôi như thấy lấp lánh nụ cười của út trôi vào tiềm thức. Tôi ngồi đợi út ngủ một giấc rất dài trên cánh đồng hoa. V đã mang tôi đến đây giống như ngày nhỏ út từng hứa sẽ mang tôi đến bất cứ vùng đất mới nào mà em được đi qua. Hôm nay út mặc váy màu trắng, đi đôi giày vải và đội một chiếc mũ rộng vành… Hoa levender tím đến tái tê lòng…
Sau những chuyến đi mường tượng ấy. Tôi trở về với cuộc sống thường nhật trong một phòng trọ chật trội giữa lòng thành phố. Nhà ông bà chủ có nuôi một con gà trống, đêm nào đó cũng gáy khản cổ rất lâu mà không một tiếng gáy nào đáp lại. Những lúc ấy tôi hay nghĩ về út, về những chuyến đi. Nhưng tôi có cha mẹ già cần phải chăm sóc. Tôi có những ám ảnh khôn nguôi của thuở đầu đời kìm hãm bước chân tôi. Chỉ khi chạm vào thế giới của V tôi mới thấy mình thật sự được giải thoát. Giống như V cũng vịn vào  chuyến đi để phóng sinh cho những lo sợ hạn hẹp của đời người.
V rất biết cách sống chậm lại sau một chuyến đi dài. Như thể khi tôi tỉnh dậy ở phòng trọ chật chội này thì ở một đất nước xa xôi em đang mở toang cửa sổ đón nắng mới tràn vào. Một lọ hoa nhỏ được đặt bên cửa sổ, dường như hoa là thứ không bao giờ thiếu trong ngôi nhà nhỏ của em. Hoa V mang về rong ruổi đường dài cho bớt nhớ những dấu chân. Tôi thích hình ảnh em ngồi bó gối ngoài cửa nghiêng mắt nhìn nắng nhảy nhót trên bức tường rêu. Em bé nhỏ thế thôi mà gieo vào lòng tôi cảm giác bình yên đến lạ. Lần gần đây nhất chúng tôi nói chuyện với nhau, V kêu nhớ trường lớp cũ và những con người Hà Nội. V hỏi tôi:
-Mọi thứ có thay đổi nhiều không chị?
-Cũng như em thôi. Em cũng đổi thay nhiều. Hà Nội chật chội hơn rồi, không biết khi trở về em còn có thể yêu nó hay không nữa…
-Em được sinh ra và lớn lên ở đó nên chắc sẽ tìm được lý do để mà thương yêu nó. À! Mẹ mới viết thư sang hỏi em ra trường rồi đã xin được việc chưa? Nếu không xin được việc thì về nước. Em chỉ muốn xin một công việc bình thường ở đây để dành thời gian khám phá những vùng đất mới. Em còn nhiều nơi muốn đến, nhiều con người em muốn gặp.
Đấy là lần đầu tiên chúng tôi nói chuyện với nhau gần gũi thế. Tôi bất chợt nhớ về chuyến đi hoang của mình năm mười ba tuổi đầy khờ dại. Nên không đừng được lòng mình mới hỏi V:
-Vì sao ngày đó đang học dang dở bên này em lại tính đến chuyện đi du học một cách bất ngờ như vậy?
V cười bảo:
-Lúc ấy em đi vì muốn quên một cơn “say nắng”. Nhưng bây giờ em đi chỉ đơn giản vì lòng còn muốn đi, chân còn muốn bước.
-Chứ không phải vì một người đàn ông luôn giấu mặt đằng sau những bức hình lung linh đó hay sao?
-À! Chị thấy đấy, em cũng rất khôn khéo khi biết gói ghém thật kĩ báu vật của đời mình đấy chứ. Anh ấy là một món quà mà cuộc sống đã mang lại cho em từ những chuyến đi. Khi nào về thăm nhà, em sẽ mang anh ấy về cùng.
Chúng tôi kết thúc câu chuyện vào mùa thu. Những giấc thu êm đềm ngủ trên môi V cười lịm ngọt. Tôi về quê ra thăm mộ út, thấy những bụi cây cũng dại cũng đã nở vàng hiu hắt cả một góc nghĩa trang. Tôi khẽ gọi tên út trong niềm hy vọng rằng em chỉ đang chạy chơi quanh quẩn đâu đây thôi. Nếu nghe được tiếng chị gọi em sẽ vội vã chạy ùa vào lòng tôi như lúc bé thơ. Mặc dù tôi biết có thể em đang mặc bộ váy trắng, bay trên nền trời xanh thẳm lướt qua từ vùng đất này đến vùng đất khác như giấc mơ của em năm nào. Mà ở thế giới xa xôi ấy đôi chân của em mang hình hài của gió. Như lúc này gió đang luồn qua các kẽ tay tôi…
                                              * * *
Tôi trở về tỉnh nhà nhận công tác để tiện chăm sóc cho bố mẹ lúc tuổi già. Sau một khoảng thời gian khá dài bận bịu để tập thích nghi với công việc mới. Một hôm tôi qua thăm thì thấy V đã đóng cửa facebook chẳng hiểu vì lý do gì. Điều đó có thể sẽ khiến những chuyến đi tưởng tượng của tôi dần khép lại nhưng tôi biết sẽ chẳng bao giờ là kết thúc cho những chặng đường thơm hương sắc mà em sắp đi qua…

         

Vũ Thị Huyền Trang

Đất diễn...



Nhóm chúng tôi có sáu người, chơi thân từ hồi Đại học. Mỗi đứa một quê, một tuổi, một tính cách nhưng lại vô cùng gắn kết với nhau. Nhóm có bốn đứa con gái, hai thằng con trai, đa phần là nghèo chỉ có Vy là được sinh ra trong một gia đình giàu có. Chúng tôi cùng tồn tại trong cuộc sống của nhau bằng vô vàn khuyết điểm. Làm đau nhau bằng những mối quan hệ tình cảm nhì nhằng. Yêu thương nhau bằng những vết đau của đời vẽ hằn trên từng khuân mặt. Và một lý do nữa để sáu đứa gắn kết lại với nhau là bởi vì Hà Nội là đất diễn, chúng tôi cần đến nhau trong một vở diễn bởi không ai lại độc diễn một mình mãi được.
Tôi qua thăm Quang khi anh đang ngồi đánh cờ vua một mình, điều ấy chẳng có gì lạ cả. Tôi bảo:
-Đánh một mình thế này biết thờ vua nào, giết vua nào?
Quang cười khùng khục bảo:
-Loạn hết rồi. Giết được con nào cứ giết cho nhanh hết ván.
-Vậy anh chơi để làm gì?
-Giết thời gian là chính. Còn em làm việc như điên như thế để làm gì? Để chết à?
Tôi cười nhạt, ngồi phịch xuống nền nhà, ngửa cổ nhìn đám mạng nhện giăng đầy trên mái nhà rồi thủng thẳng đáp:
-Ừ! Để chết.
Anh vẫn say mê với bàn cờ của mình, thi thoảng lại nghe một cuộc điện thoại ngắn với những ngôn từ cộc lốc. Thiên hạ đầy người bảo anh cục cằn, khối kẻ nói anh mất dạy. Anh nghe xong, cười khùng khục bảo “kệ mẹ đời”. Tôi thích cái vẻ bất cần đấy của anh, bất cần đủ để không làm tổn thương người khác và cũng chẳng để ai làm tổn thương mình. Quang rất ít nói, ngồi với anh cả buổi chiều cần mẫn chắp nhặt lắm cũng chỉ được vài ba câu chuyện vô thưởng vô phạt dở dang. Anh quan tâm đến tất cả mọi thứ bằng cái cách như chẳng quan tâm gì hết.
 Đôi ba lần trong một tháng đứa này tạt qua nhà đứa kia như chỉ để nhìn thấy nhau vẫn đang còn tồn tại. Cũng có hôm trời mưa Quang gọi cho tôi chỉ để hỏi “bên ấy có mưa không?”. Dù chúng tôi ở cùng một thành phố chật vanh vách, len qua mấy cái ngõ chợ là đến nhà nhau. Cũng có hôm trời Hà Nội bão to, ngoài đường lớn đã bộc rễ vài cây cổ thụ. Tôi gọi cho Quang hỏi đang làm gì thế? Quang cười bảo còn biết làm gì ngoài chơi cờ vua một mình. Tôi nghe thấy tiếng anh lạc đi trong tiếng mưa xối xả và tiếng cửa sổ đập uỳnh uỳnh. Lúc sắp cúp máy thấy tiếng anh cười khùng khục, hỏi sao mà cười? Anh bảo mới nuốt sống một con tướng, thế là xong một ván cờ. Tôi nhìn ra mịt mùng mưa gió mà lòng se sắt. Không đủ sức bấm số gọi cho bốn đứa còn lại. Tự nhiên lại nghĩ dại, nhỡ mà Hà Nội cứ bão to thế mãi…
                                         * * *
Trong số sáu đứa thì Nhu và Chi là hai đứa vô âu vô lo nhất. Mỗi đứa hồn nhiên một kiểu, toàn kiểu chả giống ai. Nhu tin đời một cách nhiệt tình, chẳng bao giờ thấy nó hoài nghi dù đời phũ phàng đập nó túi bụi nhiều lần. Có nói, nó cũng bảo “Tại em kém chị những ba tuổi, hoài nghi sớm quá cuộc đời hóa ra buồn”. Nó nói rồi mang tiếng cười đi lẫn vào đám đông ồn ào chỉ để lại trong mắt tôi vài chấm xanh đỏ từ bộ váy hoa sặc sỡ. Hôm nay có thể bị phụ tình, ngày mai Nhu lại sẵn sàng yêu như chưa bao giờ được yêu nhiều đến thế. Chi nhìn Nhu với cái ánh mắt đầy ngưỡng mộ rồi ngoảnh sang tôi bảo:
-Sau này Nhu nhất định sẽ sướng, chị có nghĩ vậy không?
Tôi nhìn em, nhoẻn cười bảo:
-Em rồi cũng hạnh phúc. Tin chị đi.
Chi thích nghe những câu như vậy. Nó khiến em vui như một đứa trẻ nhỏ cầm trên tay thứ đồ hàng bán mua, tiền bằng lá mà cứ ngỡ là vô giá. Nhưng em khác Nhu ở chỗ, em yêu thương có giới hạn, mọi thứ đều được em tính toán rất sằng phằng. Ai yêu thương em, em yêu thương hết lòng, ai phản bội em, em trả lại họ sự im lặng đủ khiến đối phương đau cả một đời. Em chẳng bao giờ mảy may giằng níu. Đời với em rất đơn giản “sống thế nào thì nhận thế ấy”. Quang cười bảo kể mà hồn nhiên được như Chi cũng là có đẳng cấp lắm rồi.
Đùng một cái Chi lấy chồng, cả nhóm chẳng kịp khuyên răn, dặn dò điều gì. Hỏi sao mà vội vàng thế, Chi tặc lưỡi bảo “lấy cho xong. Đằng nào chả phải lấy chồng”. Chồng Chi đẹp thì không đẹp nhưng giàu có lại được tiếng rất thương vợ chiều con. Đàn ông vừa thành đạt vừa chỉn chu với gia đình như gã hiếm lắm. Lần nào cả lũ có dịp gặp nhau, tôi cũng bảo Chi:
-Gái một con có khác, đẹp đến ngỡ ngàng. Thôi thế là em hạnh phúc rồi. Giá mà đứa nào cũng được như em thì tốt.
Chi không nói gì, chỉ cười với ánh mắt khóe môi vô cùng đằm thắm. Quang có kiểu trêu bạn rất phũ, ngồi múc từng thìa cafe bỏ vào miệng như xúc cơm. Ngắm Chi đắm đuối đã đời rồi tặc lưỡi phán một câu xanh rờn:
-Đúng là gái gặp hơi trai như thài lài gặp… Mà trai đây là phải trai có tiền nhé. Chứ trai nghèo như mình gái nó va vào lại chun mũi như gặp giấm. Thôi mấy em ngồi đấy mà ngậm ngùi làm gì, cố gắng mà làm đẹp rồi chọn giai mà lừa như Chi ý, đời có phải sung sướng không.
Chi ngẩng lên nhìn lướt qua Quang đầy chát chúa. Họ đã từng có một thời rất yêu nhau…
                                             * * *
Hai nhân vật cuối cùng trong nhóm chúng tôi giờ đã thành vợ thành chồng. Vy tiểu thư đài các người Hà Nội yêu và lấy Dương vốn xuất thân trong một gia đình không lấy gì làm khá giả. Lấy nhau xong Dương dọn về nhà bố mẹ Vy sống. Chuyện của họ chúng tôi chỉ biết vậy, dù thân mấy họ cũng không nói gì nhiều. Người ta thấy Dương chiều nào cũng vậy, nếu không tụ tập bia bọt với bạn bè ở quán bia Hải Xồm thì cũng cầm vợt đi đánh cầu lông trong câu lạc bộ. Thiên hạ chẹp miệng bảo “Thằng ấy thế mà sướng. Chuột sa chĩnh gạo”. Câu ấy vốn không dành cho đàn ông, Dương nghe thấy cũng bỏ ngoài tai. Gặp nhau chỉ thấy Dương kể chuyện cười cóp nhặt đâu đó. Đôi khi là những mẩu chuyện cười nhạt nhoét, cả bọn chẳng đứa nào buồn nhếch môi vậy mà Dương vẫn cười sặc sụa. Quang từng bảo với tôi rằng anh không khi nào dám chạm vào nụ cười ấy của Dương. Hỏi vì sao? Quang trả lời cộc lốc: “Sợ vỡ!”. Khi ấy là mùa hạ, chúng tôi vừa chia tay Nhu xong. Chẳng hiểu vì lý do gì Nhu quyết định rời thành phố nhanh đến vậy dù mấy năm sinh viên lúc nào em cũng khăng khăng sẽ bám trụ Hà Nội đến tận cùng.
Hôm ngày lễ 30-4, dân tỉnh lẻ đổ xô về quê còn điểm đến của dân thành phố là các tụ điểm du lịch. Mấy đứa tôi chẳng đứa nào nghĩ đến chuyện về quê như thể chả đứa nào có quê để mà về. Chúng tôi chúng tránh nói về quê hương, như thể sợ chạm vào cánh cửa kí ức luôn được cài then cẩn thận. Mặc cảm về cái nghèo như vô hình đeo bám dai dẳng trong tâm trí chúng tôi. Quang từng bảo:
-Anh xa quê từ năm mười sáu tuổi, lang bạt kiếm ăn khắp nơi. Xin đi học mấy lần bổ túc mới có cái bằng cấp III để thi Đại học. Bây giờ thành kỹ sư công nghệ thông tin rồi mà về quê người ta vẫn gọi mình là Quang cá mắm.
-Hồi xưa chắc anh ốm nhom ốm nhắt hả?
-Không! Người ta gọi là Quang cá mắm vì anh chuyên đi bới hố rác bên doanh trại bộ đội trước nhà để lấy những túi đầu cá mắm họ vứt về ăn. Nhiều khi túi cá mắm bị lẫn đủ thứ rác rưởi hôi thối đầy ròi bọ.
-Thế thì cũng đâu có gì là xấu đâu.
-Ừ thì có ai bảo là xấu đâu. Nhưng có những thứ kỉ niệm mà mình không bao giờ muốn nhắc lại. Nó làm cuộc đời mình luôn có thứ cảm giác dù có cố gắng đến thể nào thì vẫn không thể tinh tươm lên được.
Tôi quay mặt vào tường nằm thở dài. Hình như Quang vừa chạm vào cái dằm vướng víu sẵn trong tim tôi bao nhiêu ngày tháng. Nó giống như một khối u lành tính, tưởng như không nguy hiểm mà vướng víu và ám ảnh vô cùng. Tôi cũng có một tuổi thơ nghèo đói, ngày nào cũng là nỗi ám ảnh ăn rau dại thay cơm. Ngày nào cũng ngồi nhìn đứa bạn thân nhà kế bên vác rá đi vay gạo rồi lại vác rá về không. Ngày nào ở làng cũng có đứa trẻ con say sắn sống. Tôi nhớ ánh mắt con chó Vàng thảm thương nhìn tôi khi nó trút hơi thở cuối cùng vì đói. Cái đói đến người còn không có ăn thì nói gì đến chó. Tôi khóc cạn nước mắt mấy ngày thương Vàng của tôi, chú chó thông minh, tận tụy vẫn hay đưa tôi đi học chiều lại đón tôi về. Cái ngày tôi còn được cắp sách tới trường cứ tức nghẹn, giày vò trong tâm trí non nớt của tôi. Vàng ơi! Vàng ơi!
Ngày lễ 30-4 vì nghĩ mấy đứa kia có gia đình hết rồi nên chẳng dám làm phiền, tôi len qua mấy chợ nhỏ để mò đến phòng Quang. Chợ ngày lễ cho khác, thiếu tiếng bám mua, bới móc nghe cũng có vẻ thơm tho. Tôi ngồi xem Quang đánh chờ hồi lâu, mỏi mắt thiếp đi lúc nào không biết. Lúc tỉnh dậy đã thấy Dương nằm còng queo bên cạnh, hơi thở nồng mùi rượu. Quang vẫn mải mê với ván cờ vua, thi thoảng lại chau mày chửi bới đầy hằn học. Tôi véo Quang rồi hất mặt về phía Dương hỏi:
-Sang bao giờ thế? Có chuyện gì à?
Mắt vẫn không dời khỏi bàn cờ, Quang thở dài bảo:
-Nó sang ngủ nhờ thôi mà. Tí tỉnh dậy lại mò về tổ.
-Sao tự nhiên hôm nay lại vậy?
-Từ lâu rồi, thi thoảng nó lại qua ngủ nhờ một tí. Chẳng qua là em không gặp đấy thôi.
-Hôm nào sang cũng say thế này à?
-Ừ! Hôm nào cũng say như thế.
Tôi ngồi bó gối nhìn Dương. Nhìn hồi lâu thấy nước mắt Dương từ từ chảy xuống nền nhà. Đúng lúc ấy thì Quang cười sặc sụa, tôi thắc thẩm “lại thịt được con tướng chứ gì?”. Quang đứng dậy, vuỗi mông vừa đi ra ban công vừa hát ông ổng “đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng, ngọn gió hoang vu thổi buốt xuân thì…” Tôi nghe mà như có mưa rơi ở trong tim…
                                         * * *
Tôi chủ động gọi cho Vy đúng lúc bé Na quấy khóc ầm ĩ. Giọng Vy khẳn đặc dời dạc đầy mệt mỏi. Nói chuyện được dăm ba câu Vy bảo bận ru con ngủ rồi tắt máy. Tôi xoay qua nhìn bốn bức tường bỗng giật mình nhận ra tường nhà treo quá nhiều gương. Tôi soi khuôn mặt mình nhạt nhòa từng góc tối sáng khác nhau, thử bật cười nhưng thấy trong gương nụ cười méo xệch. Tôi gỡ dần từng chiếc gương đến khi trên tường chỉ còn lại những dấu đinh. Nằm dài, vắt tay lên trán và khóc. Khóc nức nở cho những vai diễn của chúng tôi.
Hà Nội mùa này nhiều lúc đến bực mình với những cơn mưa đỏng đảnh. Có đến nằm ăn vạ ở phòng Quang thì cũng chỉ thấy mưa rơi rách nát cả lòng. Khó khăn lắm mới lôi Quang ra khỏi ván cờ, hai đứa nằm cạnh bên nhau nói những chuyện trên trời dưới biển. Nhiều khi mọi câu chuyện đều bắt đầu bằng thì tương lai “Khi nào giàu…”. Nghe giống như chúng tôi đang bắt đầu kể những câu chuyện cổ tích của thời hiện đại.
-Khi nào giàu em sẽ ra nội thành mua một mảnh đất thật rộng rồi xây nhà vườn. Em sẽ trồng thật nhiều hoa. Anh có tưởng tượng được không, hẳn một ngôi nhà hoa nhé! Cuộc sống mới tươi đẹp làm sao?
Quang cười khùng khục, quay ngắt đầu lại nhìn tôi:
-Một người cả mấy năm không thấy mua một bông hoa nào về cắm như em mà lại chỉ mơ ước về ngôi nhà hoa thì kể cũng lạ thật.
-Biết làm sao được. Cuộc sống ở đây chật chội tù túng quá, em nhìn hoa mà thấy tội không cả lỡ mua về.
Chúng tôi nằm im lặng bên nhau rất lâu, đã bắt đầu cảm nhận được cái nóng hầm hập của nền nhà bốc lên nhờ mưa. Sau khi nằm đếm từng tiếng hạt mưa rơi ngoài mái hiên, như chợt nhớ ra điều gì đó, tôi hỏi Quang:
-Thế còn anh?
-Anh à? Anh mơ ước đơn giản lắm. Sẽ lấy vợ rồi sinh con. Em biết đấy những đứa trẻ đẹp như thiên thần sẽ làm đời chúng ta tươi trẻ lại. Sẽ thuần hóa những ngỗ ngược, bướng bỉnh của chúng ta. Lũ trẻ… lũ trẻ sẽ cho chúng ta thấy đời thật đáng sống!
Câu chuyện nói đến đó thì trời tạnh mưa. Mà kể cũng kì lạ thật, khi mà mấy hạt mưa cuối cùng còn nhỏ tong tỏng ở mái hiên thì trời đã nắng tươi roi rói. Trời đất nũng nịu như một cô gái mười tám tuổi. Quang tiễn tôi ra ngõ, vỗ về tôi bằng cái cách của những thằng đàn ông thường vỗ về nhau. Cũng may nhờ có mấy cái vỗ vai của anh mà thấy đoạn đường về như ngắn lại. Khi tôi vừa về đến phòng trọ thì Vy gọi điện bảo muốn được tôi chạy đến và ôm Vy một cái. Tôi òa khóc như đứa trẻ.
Có lẽ trận mưa ban chiều cũng đã làm mờ hết phấn son…

          Vũ Thị Huyền Trang

Hai nửa...

  


Như thế, khi ngồi vắt vẻo trên thành lan can sân thượng khu nhà trọ, Vân thường hỏi Minh một câu cũ rích:
-Không biết giờ này một nửa của tôi đang ở đâu và đang làm gì ông nhỉ?
Minh đáp tỉnh bơ:
-Đang ở trong một cái nhà vệ sinh công cộng nào đó và giải quyết nỗi buồn thế kỷ.
Cũng có khi Minh đủng đỉnh:
-Một nửa của bà đang ở đây, ngay bên cạnh và lắng nghe những câu hỏi vớ vẩn của bà. Còn bây giờ thì thôi ngay cái điệp khúc sến chuối ấy đi.
Là y như rằng lần nào Minh cũng nhận được cái lườm sắc lém của Vân cùng với một quả thụi nhẹ vào giữa ngực. Rồi hai đứa giải chiếu, nằm chỏng kheo, ngửa mặt lên trời, khi Minh hát nghêu ngao mấy bài nhạc trẻ thì Vân vẫn mải mê nghĩ về một nửa của mình. Đó hẳn nhiên sẽ là một người đàn ông hoàn hảo, đủ  làm mê hoặc bất cứ một người con gái nào, đủ để Vân không bao giờ cảm thấy nhàm chán khi hai người ở bên nhau. Mà với Vân, trong tình yêu kị nhất là sự nhàm chán. Minh sờ trán Vân bảo:
-Chắc ngày xưa nghe nhiều chuyện cổ tích quá à mà bây giờ hồn vía cứ trên mây mãi thế? Thằng cha hói đầu, bụng phệ hiện tại của bà đâu rồi, đừng bảo lại bị bà đá rồi nhé!
-Đừng nhắc đến thằng cha ấy. Người đâu mà kẹt xỉn, đi chơi với gái mà tính toán từng đồng.
-Bà yêu người ta hay yêu cái túi tiền, tính đào mỏ tình yêu mãi à? Thế thì chẳng bao giờ tìm thấy chàng trai hoàn hảo đâu.
-Tôi không xấu xa như ông tưởng đâu nhưng là con gái thì phải được cưng chiều chứ. Mà mấy ông đấy tôi chỉ yêu cho vui thôi, đó không phải là nguyên mẫu lý tưởng của tôi.
Minh ngồi bật dậy trở về phòng, tự nhiên thấy ngột ngạt vô cùng. Vân dời khỏi xóm trọ bằng lớp son phấn lòe loẹt sau khi nhận được cuộc điện thoại của một gã đàn ông nào đấy. Khi chạm Minh ở cầu thang, Vân dặn:
-Tối nhớ cắm cơm nhiều chút, phần tôi một suất nhé. Thằng cha này chả bao giờ đãi tôi bữa nào ra hồn cả. Mà nếu tôi về muộn, nhớ ra mở cổng giúp tôi nghe chưa, thể nào cũng có khối chuyện để kể cho ông nghe đấy.
Minh đứng bên cửa sổ, nhìn theo bóng dáng Vân ngồi vắt vẻo trên con xe mô tô đồ sộ của thằng cha đầu hói. Lòng bỗng nhiên buồn tênh, trống rỗng như thể ngày nhỏ mỗi lần định chạm tay vào chùm bong bóng xà phòng thì nó đã vỡ tan vào không khí, không để lại dấu vết nào. Nhiều khi, Minh muốn lặng lẽ dời khỏi khu trọ này vào một buổi sáng tĩnh lặng nào đó. Ra đi không chào từ biệt ai, không gửi lại chút tin tức gì, không nhìn sang cửa phòng đối diện. Nơi mà Vân đang ngủ vùi trong lớp phấn son chưa kịp gột rửa và mùi rượu phả ra trong từng hơi thở. Cũng có khi Minh muốn đạp tung cánh cửa kia, lôi Vân dậy dội cho vài gáo nước lạnh để cô tỉnh táo. Để trở về thành Vân của những ngày đầu gặp gỡ chứ không phải vẻ trâng tráo, bụi bặm và sành đời của một đứa con gái sống cẩu thả, vô trách nhiệm với chính bản thân mình. Nhưng vì lẽ gì mà Minh vẫn ngồi đó, chờ cho đến mục ruỗng những tháng ngày trôi theo son phấn và nước mắt của Vân.
                                         * * *
Minh và Vân chuyển về khu nhà trọ này cùng một ngày, trời mưa như trút. Hà Nội ngập ngụa trong cơn mưa kỷ lục tháng 10- 2008. Đồ đạc hai đứa đều chẳng có gì, cái ba lô nhẹ tênh và khuân mặt mệt mỏi, chán chường sau một chặng đường dài dắt xe trong biển nước. Sau vài lần va nhau ở cầu thang, khi thì Vân nhờ Minh sang sửa dùm cái cầu chì, cũng có khi Vân kiếm đâu vài cuốn sách của Haruki Murakami mang quẳng sang phòng Minh bảo “Đọc đi, nghe bảo hay lắm đó”. Thế là thành thân nhau, thi thoảng hứng lên hai đứa đi chợ thổi cơm chung, Vân buộc tóc cao ngồi gõ vung chờ Minh lụi cụi rán xong đĩa chả cuốn lá lốt. Trong lúc Minh hứng chí kể về mấy ả điệu chảy nước ở công ty thì Vân chống cằm ngồi nghe chăm chú, thi thoảng lại phá lên cười.
Minh làm việc trong một công ty truyền thông, thi thoảng phải đi công tác vài ngày còn lại quẩn quanh, tiêu tan tuổi trẻ trong thành phố và căn phòng trọ tít hút tầng năm. Nơi ấy Minh có thể nghe thấy bước chân nhẹ nhàng và tiếng hát trong trẻo cất lên mỗi tối Vân đi làm về. Lần nào Vân cũng ghé qua phòng Minh để chuyện trò, để khóc và cũng có khi chỉ để ngồi im lặng, nghĩ ngợi vẩn vơ. Trước lúc lệt bệt quay về phòng, Vân bao giờ cũng hỏi:
-Không biết một nửa của Vân đang ở đâu Minh nhỉ? Hắn đang làm gì và có mảy may nghĩ gì đến tớ không?
Minh đã chán không buồn trả lời câu hỏi ngớ ngẩn ấy, anh ngồi nhìn bóng dáng Vân bước vào phòng cô và đóng sập cửa lại. Với Minh, tuy đã ở cùng khu trọ với Vân đã hơn một năm nhưng kì thực anh chẳng hiểu gì về người con gái ấy. Ngay cả nghề nghiệp của cô, anh cũng không biết, có hỏi Vân cũng chỉ lắc đầu cười. Cũng có khi Vân bảo:
-Minh quan tâm làm gì đến nghề nghiệp của Vân, bạc lắm, đơn giản nó chỉ là một công việc kiếm tiền.
Khi đó Vân còn ăn mặc kín đáo, đi lại nhẹ nhàng, còn xưng tên với Minh. Sau này tình cờ một lần Minh đi cafe cùng bạn, thấy Vân hát mê đắm trên sân khấu nhỏ, mắt buồn đẫm, tiếng hát có lúc như tiếng khóc. Lúc trồ Vân ở khu vệ sinh trong quán, thấy Vân đang ôm eo thằng cha nào già khọm. Nhìn thấy Minh, Vân cười, nụ cười khinh đời và bất cần chưa từng thấy. Từ đấy Vân xưng “tôi” với “ông”, đi về lọc cọc giầy cao gót, mùi rượu nồng, phấn son chát chúa không còn nhận ra cảm xúc.
-Có giọng hát hay như vậy, sao em nghĩ đến việc phát triển lâu dài mà chúi đầu vào mấy quán cafe đèn mờ vậy?
Vẫn cái vẻ trâng tráo, Vân bảo:
-Đèn mờ thì sao? Chả đứa quái nào sơ múi được tôi cái gì cả. Chúng nó cần gái đẹp như một vật trang trí còn tôi thì cần tiền. Cả hai bên đều có lợi như thế cũng tốt chứ sao?
-Nhưng một người đàn ông hoàn hảo thì không chấp nhận như thế.
-Người đàn ông hoàn hảo ấy là ông chắc?
-Không!
-Thế thì đừng ý kiến. Người đó phải yêu tôi và chấp nhận mọi thứ thuộc về tôi thì mới là người hoàn hảo.
Rồi Vân nằm vật ra, chậm dãi kể đủ thứ chuyện, hầu hết đều xoay quanh đàn ông. Khi thì là thằng cha đã một vợ ba con, tính tình phóng khoáng nhưng lúc nào cũng chỉ mong chiếm đoạt cô. Lúc thì gã họa sĩ, tình thì có mà tiền thì nhẵn túi, tóc tai bù xù hôi hám, dù quý tính nhưng cô không thể chạm môi hôn đến lần thứ hai trong cuộc đời. Cũng có khi Vân lại kể về thằng cha hói đầu bụng phệ, nói một tháng đưa cô một triệu với điều kiện đừng ôm eo thằng khác. Vân cười khẩy bảo với Minh “thằng cha đó coi tôi không bằng một con búp bê để tủ kính”. Rồi gục mặt vào vai Minh khóc, bàn tay vụng về của anh chạm nhẹ vào tóc cô thấy xa xót một điều gì khó tả…
Từ khi sống gần nhau, không khi nào Minh thấy Vân nói về gia đình, quê hương, cũng không bao giờ đến thăm một nơi nào đó. Có gặng hỏi, Vân cũng chỉ cười buồn bảo ở đâu có người chờ mình thì ở đó là nhà. Vân ghét nghe bất cứ ai kể về gia đình với hạnh phúc căng tròn và niềm tự hào hiện rõ trên khuân mặt. Ngoài ra Minh không hiểu gì về cô, tựa như cái tên “Vân” vốn là mây trời, là phù du tưởng gần mà hóa xa xôi lắm…
                                         * * *
Trời lại mưa rả rích. Vân trở về khu trọ sớm hơn, để mặc cho nỗi buồn âm ỉ lụi tàn dần. Vân mang ra chai rượu nhỏ, bày ít mực khô, nói:
-Đêm nay say nhé!
-Mai tôi còn phải đến cơ quan làm việc. Mà đàn bà đừng nghiện ngập mấy thứ đấy. Trông khó coi lắm.
Mất hứng, Vân vứt chai rượu chỏng chơ góc nhà, nằm dài dưới nền phòng Minh, gỡ mực khô nhai trệu trạo. Như chẳng có gì để nói với nhau nhiều hơn mọi khi một chút, Vân lại quay sang vấn đề muôn thưở nhưng giọng đã nhiều hoài nghi và mệt mỏi:
-Liệu tôi có thể tìm được một nửa của mình hay không? Hay tôi là một người dư thừa sau khi thượng đế đã xắp xếp mọi đôi lại với nhau? Nếu tôi bị lẻ đôi thì có nghĩa mãi mãi tôi chỉ là vật trang trí, là trò chơi cho kẻ khác. Phải không ông?
Khi Minh ngẩng lên, bắt gặp đôi mắt ầng ậc nước của Vân nhìn mình như kêu cứu, như muốn bấu víu, muốn nói “hãy làm ơn ở bên tôi, ôm lấy tôi và giúp tôi vượt qua quãng thời gian khủng khiếp này”. Nhưng Minh đã không đủ sức làm bờ vai cho Vân tựa, không biết phải nói gì cho cô nguôi ngoai, không dám làm gì cho đôi mắt kia thôi giỏ lệ. Hai người ngồi bên im lặng bên nhau, thời gian nặng nề trôi qua trong dằn vặt, hoài nghi và đau đớn. Chính giây phút ấy Minh cứ tự hỏi liệu mình có thể yêu người con gái đang ngồi trước mặt bằng tất cả sự rộng lượng, bao dung, cái thứ vốn ít có ở nhiều thằng đàn ông. Liệu có thể chấp nhận Vân và lãng quên những câu chuyện tanh mùi thực dụng, quên hình ảnh những cái ôm eo, quên hình ảnh thằng cha đầu hói... Và biết đâu, ngay cả sau này khi đã chấp nhận tình yêu ấy, Vân vẫn sẽ ra đi trong lớp phấn son ma mị và trở về trong nồng nặc hơi men. Biết đâu trong một giây phút nào đó đang nằm trong tay nhau, Vân lại hỏi về một nửa của mình liệu đang ở nơi đâu? Khi ấy Minh sẽ là cái gì? Sẽ lại là một cuộc vui không hơn không kém.
                                         * * *
Minh đưa thiệp mời cho Vân sau buổi sáng Vân chạm mặt một người con gái lạ bước ra từ cửa phòng Minh với chút gượng ngùng và mái tóc còn chưa kịp chải. Lần đầu tiên Vân ngập ngừng đứng trước cửa phòng Minh mà không thể bước vào. Cũng là lần đầu tiên khi đối diện với nhau, Minh không dám nhìn thẳng vào mắt Vân như những lần ngồi bên nhau nữa. Tối đó, sau khi uống khá say, Vân leo lên sân thượng đã thấy Minh ở đó. Vân châm thuốc, rít một hơi thật mạnh rồi phả khói vào mặt Minh cười khanh khách.
-Lại còn cả hút thuốc nữa à? Từ bao giờ vậy?
-Lâu rồi. Thích thì hút, chả ảnh hưởng đến ai. Mà sao nhanh vậy?
-Cái gì nhanh?
-Thì việc ông lấy vợ. Sao chẳng bao giờ thấy ông kể với tôi về người con gái ấy. Quen nhau lâu chưa?
Minh nằm ngửa cổ lên trời, khẽ thở dài:
-Vừa đủ để có thể hiểu nhau.
-À! Cái đó người ta gọi là một nửa đây mà. Dù sao cũng chúc mừng ông đã tìm thấy một nửa cho mình.
Vân nói rồi loạng choạng đi xuống phòng. Minh lặng im, thấy buốt nhói nơi ngực trái.
Ngày cưới Minh, Vân có mặt từ sớm nhưng ngồi khuất trong đám đông, lặng lẽ nhìn cô dâu, chú rể cúi lạy gia tiên và rạng rỡ khi trao nhẫn cưới. Một cảm giác hụt hẫng xâm chiếm lòng Vân, như thể cô vừa mất đi một điều gì vô cùng quý giá. Khi Vân bước ra khỏi đám cưới, Minh khẽ buông lỏng tay cô dâu, lặng lẽ nhìn theo như thể đang bất lực và nuối tiếc khi một phần hồn đã bay đi mất. Đám đông không mảy may quan tâm đến cô gái vừa dời khỏi đám cưới, cũng không nhận biết được cảm giác chênh vênh của chú rể. Họ chỉ làm đúng phận sự của một đám đông trong ngày đại hỉ. Họ hô vang:
-Hôn nhau đi! Hôn nhau đi!

Chú rể khẽ giật mình, luống cuống đặt lên môi cô dâu một nụ hôn vội vã.

Khách trọ...


                                                                       
 Khách trọ đến ở đã được một tuần, đã quen với căn phòng mới và quen cả việc mỗi ngày nhảng qua tường sang nhà chủ xách nước hai lần. Khách trọ tên Huyền, bà chủ vẫn gọi Huyền đen, Huyền tuyền âu yếm, ngọt ngào như cái cách bà gọi con misa cưng của bà. Huyền chẳng bao giờ thèm giận, vẫn sáng một lần, chiều một lần sách hẳn cái can to đoành sang đựng nước. Nhà bà chủ không giàu, có hai cái phòng cấp bốn, hai mẹ con bà ở một phòng với vài ba thứ đồ linh tinh không đáng giá, còn một phòng bà cho Huyền thuê trọ với giá ưu đãi. Từ đó nhà bỗng có ba người.
Nhà chủ rộng rãi, thật hiếm có một nhà nào ở giữa trung tâm thu đô lại đặc sệt tính nhà quê như thế. Ngoài vườn trồng vài ba bụi chuối, nuôi hẳn một đàn gà mười con, con nào con ấy vàng ươm. Ban ngày gà mái cục con ầm vườn, ban đêm thì gà trống gáy cả ngõ phố tỉnh giấc. Vài bụi mía tím vẫn còn trắng phấn, vài gốc cam bị sâu đục vàng, cây mít đã đến mùa ra quả. Tất cả đều gợi cho khách trọ cảm giác thân thuộc như quê mình. Đôi khi, giữa đêm tỉnh dậy vì tiếng gà gáy mà khách trọ cứ ngỡ mình đang nằm ngủ giữa quê nhà.
Đất nhà bà chủ đắt lắm, bao nhiêu người đến hỏi mua nhưng bà đều lắc đầu cười. Có hôm buột miệt khách trọ hỏi:
-Nhà thì ít người sao bác không bán bớt đất để làm gì rộng thênh thang thế này?
Bà bảo:
-Để cho thằng Hùng lấy vợ, sinh con, con lại sinh ra cháu. Đất bao nhiêu cũng chưa đủ chứ thế này đã ăn nhằm là gì. Ở rộng rãi cho nó thoải mái, chen nhau chật chội thì chỉ có mà tổn thọ thôi.
Đôi khi khách trọ nghĩ bà chủ thật dại, bao nhiêu người bán đất để có nhà lầu, xe hơi mà bà thì chỉ thích sống đạm bạc. Thế mà ai nói gì bà cũng chỉ cười cho qua chuyện. Cuộc sống của hai mẹ con bà không giàu có nhưng cũng tạm đủ. Bà trước kia bà mở quán cắt tóc nho nhỏ ở vỉa hè, sau này vừa là có tuổi, lại làm ăn không thuận lợi như trước kia nữa vì quán cắt tóc, gội đầu massage nổi lên khắp nơi nên bà không làm nữa. Suốt ngày quanh quẩn chăm mấy con gà và cơm cháo chờ anh con trai đi làm về. Anh Hùng học xong Đại học, xin luôn vào một công ty điện tử, lương tháng vài triệu, lúc nào cũng thấy anh vui vẻ, tính y hệt bà chủ. Người ngoài bảo “được cả mẹ lẫn con”, khách trọ thì nghĩ thầm họ như người ở nông thôn lạc xuống phố không bằng. Người đâu mà chân chất, thật thà đến lạ.
Dạo này nhà có ba người nên mỗi sáng đi chợ bà dặn mình mua nhiều hơn một chút. Bình thường chỉ nửa cân hến là hai mẹ con nấu canh ăn đủ, bây giờ bà mua cả cân mà vẫn lo sẽ thiếu. Bình thường bà chẳng bao giờ ăn được mướp đắng nhưng từ khi biết khách trọ thích ăn thì tuần nào bà cũng ghé hàng rau mua mướp đắng ít nhất một lần, rồi tạt qua hàng trứng mua về xào lên cho khách trọ. Mặc dù hai phòng ăn riêng, nhưng cứ đến bữa ăn là bà lại bê một bát thức ăn đứng bên bờ rào bằng bê tông gọi khách trọ ra dúi vào tay rồi lặng lẽ đi vào. Đôi khi mua hoa thắp hương mồng một, lại nghĩ phòng con gái cần phải có lọ hoa mới ra dáng thế là bà cũng đi mua hoa, mua bình về dúi cho khách trọ. Con trai bảo đùa:
-Mẹ chiều khách trọ hơn cả chiều con.
Bà chủ mắng yêu:
-Bố anh! Anh thì đã có mẹ lo cho từng miếng ăn, còn người ta một thân một mình sống giữa thành phố này, đói lo không ai biết. Lúc ốm đau không ai chăm, cũng là người thì phải biết thương người ta chứ.
Con trai chỉ cười, rồi tặc lưỡi bảo:
-Sao mà mẹ lại thương người hơn cả bản thân mình thế không biết được. Chưa nói dứt câu đã thấy bà ra bờ rào hỏi khách trọ:
-Cháu có gội đầu với bồ kết không? Bác đun luôn cho nhé!
Khách trọ sờ mái tóc rối bù của mình sau một ngày đạp xe đi làm thêm quanh Hà Nội, rồi vâng khe khẽ.  
Khách trọ đẹp. Cái vẻ đẹp thùy mị, dịu dàng của người con gái thôn quê. Lên thành phố ăn học đã được ba năm nhưng nhìn khách trọ không thay đổi nhiều so với buổi đầu mới đến đây thuê nhà. Vẫn mái tóc đen dài, vẫn mặc những bộ quần áo kín đáo mà tươm tất, vẫn nụ cười dễ làm mê đắm trái tim người khác. Khách trọ hiền, ít nói nhưng rất biết an ủi và giúp đỡ người khác. Những hôm trời hanh nắng, thấy bà chủ ra hiên nhà ngồi buồn thiu, để mấy con gà vào tận nhà quấy mà bà không buồn đuổi. Biết bà buồn, khách trọ lân la nhổ tóc sâu, chuyện trò hoặc chỉ ngồi im lặng nghe bà chủ thở dài từng tiếng. Những hôm mưa triền miên ngày đêm, trời đất, khi con trai đã đi làm, bà chủ lại ra hiên ngồi, nhìn mông lung ra màn mưa. Khách trọ ở bên này cũng ra hiên ngồi, tự nhiên không hiểu sao thấy buồn vu vơ, một nỗi buồn xa lắc...
                                                * * *
Ngày nhỏ, khách trọ cũng có những ngày ngồi ngóng vọng trong trời mưa như thế. Khi người mẹ hiền mất đi, khi bố phải theo những chuyến tàu lên biên giới làm ăn. Nhà chỉ còn mình bà nội với Huyền, mái lá cọ không tránh nổi những cơn mưa ồ ạt mùa hè, không che kín những cơn gió buốt rét mùa đông, không giấu nổi nỗi buồn đìu hiu, se sắt khi mùa thu đến. Mẹ mất vì bệnh ung thư vú, để lại trong trí óc Huyền mãi mãi là đôi mắt mẹ lúc nào cũng ầng ậc nước, giọng nói buồn như mưa, và đôi bàn tay những lúc ôm Huyền vào lòng mỏng manh như gió. Từ ngày mẹ mất, ngày nào Huyền cũng ra hiên ngóng, dù đã mấy lần nội bảo “mẹ con mất rồi, về một thế giới khác rồi và sẽ không bao giờ quay trở lại nữa đâu”. Huyền biết điều ấy, nhưng vẫn không thôi ngóng đợi. Ngày ấy Huyền còn tin vào cổ tích.
Huyền lên lớp bảy thì nội mất. Đúng vào những ngày mưa tầm tã như thế này. Nội đi rất nhẹ nhàng, khi hai bà cháu đang ngồi ngoài hiên thì nội kêu mệt vào giường nằm, một lúc sau nội gọi Huyền vào, nội ôm Huyền trong tay rồi hai bà cháu chìm vào giấc ngủ. Khi tỉnh dậy, Huyền kể chuyện về giấc mơ gặp mẹ ở một nơi rất đẹp với thật nhiều hoa bướm, chim muông. Huyền nằm im trong vòng tay bà, nói mãi, nói mãi vẫn không thấy bà lên tiếng, Huyền giật mình lay gọi mới biết nội đã đi rồi. Đôi môi nội buồn thiu, nhưng vòng tay ôm Huyền vào lòng thì vẫn chắc và rất ấm đến lạ. Bố đi làm xa, lúc đó nhà chỉ còn mình Huyền, nhìn ra màn mưa trắng trời mà thấy sao mình nhỏ bé, đơn độc thế...
Từ đó bố thôi không đi lên biên giới làm ăn nữa mà ở hẳn nhà chăm nom Huyền. Hàng ngày bố đi làm đồng, rảnh rỗi thì đi làm thuê bất cứ việc gì miễn là để có tiền cho Huyền ăn học. Dù bố đã cố gắng yêu thương để bù đắp những thiếu thốn tình cảm cho Huyền, nhưng cô không nào sao thôi nguôi ngoai nhớ mẹ. Nỗi nhớ như từng mạch máu cứ chảy rần rật trong da thịt, nỗi nhớ như cơn mưa, như từng đợt gió táp vào lạnh buốt. Huyền nhớ những buổi chiều hai mẹ con ra đồng tát tép, mặt Huyền lắm lem vì nghịch nước, mẹ âu yếm dùng bàn tay vẫn còn tanh mùi bùn, quyệt vội vào chiếc áo mồi của mẹ rồi dịu dàng lau má cho Huyền. Mùa đông, nhà nghèo nên Huyền chỉ có độc chiếc áo khoác hoa đã vá nhiều chỗ. Những hôm mưa, áo bị ướt, mẹ phải ngồi suốt canh thâu hơ áo để ngày mai Huyền có áo mặc đến trường. Lúc khoác chiếc áo vào người hơi ấm của than lửa, của tình yêu thương bao la từ mẹ khiến Huyền thêm ấm áp, chỉ có đôi mắt mẹ là trũng sâu vì thiếu ngủ. Những đêm mùa hè, cả vùng nông thôn đều chưa có điện, cả nhà nằm ngủ ngoài hiên, mẹ ngồi quạt cho mọi người đến lúc ngồi ngủ gật lúc nào không biết. Từ khi mẹ không còn trên cuộc đời này nữa, thì đối với Huyền nó là một thiếu hụt không gì có thể bù đắp được.
Từ ngày xuống thành phố học, lúc còn ở trong kí túc xá, hàng ngày thấy những bà mẹ khác xuống thăm con bằng sự lo lắng, những cử chỉ yêu thương, những vỗ về hiền hậu Huyền lại thấy chạnh lòng. Nhiều đêm nằm nghe đứa bạn gọi điện về cho mẹ khóc vì nhớ nhà. Nhiều đêm chùm kín đầu trong chăn khóc khi thấy đứa bạn nhận được thư của mẹ với những nét chữ của người không quen cầm bút, nhưng dòng chữ nào cũng ướt nhòe nước mắt. Dần dần sự thiếu hụt tình cảm của người mẹ khiến Huyền sống khép mình trong nỗi cô đơn và nhiều khi là cả sự mặc cảm và đố kị. Để tự giải thoát mình, Huyền xin ra khỏi kí túc xá và đi tìm nhà trọ.
Huyền làm khách trọ nhà mẹ con bà Cẩm đã được ba năm. Ở đây Huyền ít bị tổn thương, trừ những hôm bà Cẩm lôi cậu con trai đã lớn tướng ra giữa sân để bà vừa cắt tóc vừa cằn nhằn:
-Tóc tai để rậm rịt thế này mà cũng dám thò mặt ra đường, mà cũng dám mơ tưởng đến con gái người ta hả?
Là thể nào Hùng cũng nhăn nhó;
-Mẹ đừng cắt cho con quả đầu giống những năm 90 là được. Mà thôi, mẹ cứ để con ra quán cắt cho xong.
-Ngồi im đấy cho mẹ. Cứ cạo chọc không còn cái tóc nào là được đúng không? Đợi con mò ra quán thì có khi thành vượn.
Huyền ngồi bên này ngó sang, miệng thì cười mà tim sao nhoi nhói.
                                         * * *
Nhà bà chủ hóa ra cũng có con gái nhưng đã mất vì tai nạn lâu lắm rồi. Nhiều lúc buồn buồn bà chủ bảo:
-Nó mà còn sống cũng sẽ xinh đẹp như cháu vậy. Da nó trắng hồng, tóc đen mượt vì chiều nào bác cũng đun bồ kết cho nó gội. Hôm ấy con bé xin phép sang nhà bạn hỏi mấy bài tập khó, lúc dắt xe ra cổng nó còn quay vào bảo chỉ đi chốc lát rồi về ăn cơm. Thế mà bác ngồi ở hiên này đợi mãi, đợi cho đến tận bây giờ vẫn không thấy nó về...
Khách trọ có lúc buột mồm lại hỏi về bác trai. Bà chủ cười, hất tay chỉ vu vơ ra ngoài đường bảo:
-Ông ấy bỏ mẹ con bác đi lâu rồi. Bây giờ có vợ con trong Sài Gòn ý.
Mắt bà chủ rưng rưng. Khách trọ ngồi buồn xo. Hùng đi làm về thấy vậy là cằn nhằn:
-Mẹ đi vào nhà ngồi đi, chứ cứ ngồi ngoài này mưa tạt vào ốm thì sao, con nhắc mẹ bao nhiêu lần rồi. Lạnh lắm!
Khách trọ ra trường, ở thêm được hai năm nữa thì phải lòng mẹ con bà chủ. Sau mấy lần bà Cẩm bảo con trai chịu khó đưa khách trọ về quê thăm bố. Sau mấy lần khách trọ gặp phải dịch sốt, nằm li bì ở nhà được Hùng hỏi han ân cần, tự tay bà Cầm bón cho từng thìa cháo nhỏ tận tình như một người mẹ. Và sau cả rất nhiều buổi chiều nhìn bà Cầm ngồi ra hiên ngóng vu vơ đứa con gái nhỏ, tự nhiên khách trọ thấy yêu những con người trong ngôi nhà này như một phần thân thuộc. Hùng đã bàn với khách trọ đón bố xuống ở cùng nhà cho vui. Bà Cầm đã bàn chuyện phá bỏ bức tường rào, đập bỏ hai phòng cấp bốn rồi xây một cái nhà cho tử tế. Hai phòng giờ đã ăn chung nhau, bà chủ coi khách trọ là con cái trong nhà, giục hai đứa nhanh đưa nhau đi mua nhẫn cưới, thuê váy áo còn chụp ảnh cho kịp không lại hết mùa xuân.

Vũ thị Huyền Trang

Mùa nắng hanh hao...



Trái tim tôi đã mãi mãi ở lại mùa nắng hanh hao ấy...

Tôi tỉnh dậy sau một giấc ngủ trưa, thấy mùi nắng sộc vào mũi tôi qua khe cửa khép hờ rêu mốc. Tiếng gà mái cục con ngoài gốc roi nghe nôn nao đến lạ. Tôi ngồi dậy, ra chiếc chõng mắc ngoài gốc cây nằm đung đưa hóng nắng. Bên cạnh xóm trọ là con mương nhỏ chảy qua bốc lên mùi hăng hăng của đất, và tanh nồng của nước. Tôi hít thật căng lồng ngực, nhắm nghiền mắt, tự nhiên tim cứ ứa ra khe khẽ một nỗi đau. Mùa nắng hanh hao thứ hai mươi đã đến, tôi đi miết mà không tìm thấy hồn mình về lại. Mãi mãi cái buổi trưa năm ấy đã đánh cắp tất cả những thương yêu hồn nhiên nhất trong trái tim tôi. Mưa nắng đã nhạt phai hàng trăm nghìn thứ ở đời mà sao nỗi đau vẫn còn nguyên sắc đỏ.
Mẹ điện xuống nhắc tôi ngày giỗ Bống. Tôi dã dời gói ghém nỗi đau bắt chuyến xe khách cuối cùng về quê trước khi trời ập tối. Thấy tiếng chân tôi khua lá khô xào xạc, ngoại ngồi nép bên hiên bống giật mình luống cuống gọi “Bống ơi! Bống nhỏ về với ngoại đấy à?”. Mẹ lật đật chạy ra, vấp phải bậc cửa ngã nhào xuống đất. Tôi vội chạy vào đỡ mẹ, thấy đôi mắt mẹ ngước lên nhìn tôi hoang hoải, trống rỗng và hụt hẫng. Tôi cười bảo “Là con đây mà, thưa mẹ. Con đã về rồi”. Mẹ ừ một tiếng nhẹ bẫng, ừ như không ừ, thế mà đã kịp cứa vào tim tôi nhói buốt. Ở nhà này không ai mong nhớ gì tôi cả, ít ra tôi cũng đã vắng nhà bốn tháng. Đó là khoảng thời gian dài đằng đẵng và nặng nề trôi đi trong tôi. Nhưng dường như so với ngoại và mẹ thì lúc nào tôi cũng chỉ đi chơi đâu đó, quanh quẩn làng trên xóm dưới. Khi nào đói thì lại về, hơi đâu mà để ý, mà nhớ thương cho mệt xác.
Tôi nhìn lên ban thờ, Bống cười mắt tít, má đồng tiền xinh xinh lúng liếng. Nước ảnh đã mờ cũ, vài ba chỗ đã bắt đầu hoen ố. Ừ thì cũng hai mươi năm rồi, một phần ba đời người chứ có ít ỏi gì đâu. Tôi giờ cũng vừa qua tuổi ba mươi, trong khóe mắt những vệt buồn thời gian đọng lại đầy ẩn ức. Thế mà Bống vẫn cười ngây thơ, mỗi lần tôi trở về, em vẫn chào tôi bằng những nỗi đau không tuổi. Giá mà em có thể hiểu được rằng trái tim tôi vẫn ngày ngày rỉ máu vì sự ra đi của em. Dẫu cho thời gian đã gắng sức, dẫu cho hàng trăm nghìn lần trong cuộc đời hạn hẹp này tôi cố vứt đi nỗi ám ảnh để vui sống. Thì nụ cười của em và nước mắt của mẹ, sự thẫn thờ của ngoại vẫn in đậm trong tâm trí. Bống ơi!
Bữa cơm chiều ngoại bảo tôi:
-Phải chi hôm đó bay đừng dẫn nó đi tắm sông có phải bây giờ nó đã cao bằng con sào, đã thành thiếu nữ. Ờ! Mà cũng có khi nó lấy chồng rồi làm mẹ. Mấy hôm nọ ngoại thấy nó về, đứng ở ngoài hiên cười cười, tao vẫy gọi mãi mà nó không vào, cứ đứng cười một lúc rồi đi. Tội nghiệp!
Tôi cúi gằm mặt, cắm cúi ăn cho xong bữa. Lúc ngẩng lên thấy ngoại ngồi thẫn thờ, tôi gắp thức ăn vào bát ngoại nhưng bị ngoại gạt ra. Thức ăn văng tung tóe xuống mâm, ngoại khóc hờ, vừa khóc vừa nói “Bay là chị mà không biết trông em. Tội đó có đáng chết không?”. Mẹ nhìn tôi bảo:
-Ăn nhanh rồi ra vườn hái lá hương nhu về đun cho em nồi nước. Ngày xưa nó vẫn thích tắm bằng loại lá ấy, nó thường khen nước thơm mỗi khi được mẹ dùng nắm lá kỳ lưng.
Tôi khẽ gật đầu, vội buông bát chạy vội ra vườn. Tôi sợ nếu còn ngồi đấy thêm vài phút chắc thể nào tôi cũng òa khóc như con nít.
Tôi ngồi đun nước cho em, khói rơm cay mắt. Chợt nhớ những buổi hai chị em lùi lụt nước ngô, phồng mang trợn má thổi bắp ngô nỏng hổi dính than đen nhẻm. Bống vừa gặm ngô vừa nhìn vết nhọ trên mặt tôi cười tít mắt, những ngón tay nhỏ xíu, hồng hồng nhẹ nhàng lau má cho tôi. Những hôm mưa hai chị em ngồi ngoài hiên, chờ mẹ đi chợ về, Bống đòi làm công chúa đội vương miện mưa. Tôi hỏi:
-Nếu được làm công chúa, Bống có còn thời gian chơi với chị nữa không?
Bống ngẩng lên nhìn tôi bằng ánh mắt long lanh hạnh phúc, cười hở chiếc răng sún đen vì ăn nhiều kẹo bột. Em bảo:
-Bống thương chị bé nhất nhà mà. Chị bé đi đâu thì bống sẽ bám đuôi chị thật chắc.
Thế mà mùa hè năm ấy, Bống một mình ra đi, nhanh như sau một giấc mơ tỉnh dậy đã không còn thấy Bống. Rõ ràng hôm ấy là ngày nắng đầu tiên sau đợt mưa đầu mùa hạ. Hai chị em bảo nhau đi bày bán đồ hàng với đủ thứ đồ nghề như lỉnh kỉnh. Hôm ấy ngoại còn tặng hai đứa cái rá con con được đan bằng tre ngâm rất đẹp. Ngoại dặn hai đứa chơi với nhau rồi vào ngủ, chiều ngoại đi chùa sẽ mang về nhiều oản. Bống thích lắm, cứ một lúc lại ra ngõ ngóng xem có thấy bóng ngoại trên con đường nhỏ hay không. Trời thì nắng to, mồ hôi Bống nhễ nhại, những sợi tóc mai bết lại trên trán. Tôi nghĩ đến con sông phía bên kia rặng tre râm mát, mùa hạ nước ngập chỉ còn dải cát nhỏ nằm thoai thoải hai bên bờ, chỗ đó thật lý tưởng để chơi đùa. Tôi rủ Bống:
-Hai chị em mình xuống bờ sông chơi cho mát đi. Chị sẽ vun cát cho em xây lâu đài. Thích không?
Mắt em mở to, tròn xoe, miệng nhoẻn cười thích thú. Thế là tôi dắt em chạy băng qua cánh đồng thẳng hướng dặng tre râm mát. Chúng tôi đã chơi ở đó rất vui, gió từ sông thổi vào mát rượi. Bỗng nhiên nhìn dòng sông lấp lánh, Bống bảo:
-Khi nào lớn lên em sẽ xuôi thuyền theo dòng sông này tìm bố.
-Vì sao chứ?
-Vì ngoại từng nói bố lên thuyền đi khai thác cát rồi từ đấy đi luôn. Bố đang ở đâu chị nhỉ? Em nhớ bố.
-Em lại thèm kem mút phải không. Không có bố thì chị sẽ mua kem cho em suốt đời. Chịu không?
-Chịu!
Bống chọc nách tôi rồi cười khúc khích, xinh xinh hai núm đồng tiền. Chơi một lúc khá lâu, tôi kéo bống lên bụi tre nằm nghịch rồi ngủ quên lúc nào không biết. Chính giấc ngủ ấy đã cướp mất em tôi và đẩy tôi vào những ám ảnh khôn nguôi. Tôi nhớ như in hình ảnh Bống nhấp nhô trên mặt nước, tay vẫy về phía tôi, gọi tên tôi. Tôi lao ra dòng sông, nước chảy xiết, em tôi chìm nghỉm. Khi tôi tỉnh dậy, điều đầu tiên mà tôi nhìn thấy là ánh mắt đau đớn, hoang hoải của bà và mẹ. Không ai hỏi han tôi câu nào, tất cả xúm lại ngoài hiên nhà. Tôi đoán em đang nằm đó. Tim tôi dường như đã vụn vỡ từ buổi nắng hanh hao hôm ấy. Mãi mãi không thể nào vui trở lại.
                                         * * *
Tôi về nhà vẫn thường nằm ngủ cùng mẹ. Lúc nhỏ mẹ bao giờ cũng khom người ấp hai chị em tôi vào mùa đông, tôi rất thích cảm giác ấm áp ấy. Ngay cả mùa hè mẹ cũng thường vòng tay qua đầu khum khum như một mái nhà che chở cho hai đứa. Thế nhưng từ khi Bống mất, mẹ lúc nào cũng nằm quay lưng lại phía tôi, kể cả tôi trở về sau một khoảng thời gian dài. Và cả những hôm tôi sốt đùng đùng, mẹ trườm khăn, giã thuốc, bón cháo cho tôi chu đáo chỉ duy có một điều, mẹ vẫn nằm quay lưng lại với tôi. Tôi nghe tiếng mẹ thở mỏng tang mà xót xa, thèm muốn được choàng tay ôm mẹ. Nhưng tôi không bao giờ đủ sức...
Ngoại có thói quen dậy lúc nửa đêm. Thi thoảng lại thắp hương lên ban thờ nói “Cháu ơi cháu sống khôn chết thiêng, có về bên bà thì xin cháu bước vào nhà. Đừng đứng ngoài hiên gió to, cảm đó”. Rồi ngoại khóc hờ, nước mắt như đã cạn khô cùng mấy chục năm thương nhớ. Chắc ngoại còn ám ảnh hôm đưa tang Bống, do tục lệ kiêng mang những người chết đuối vào nhà mà phải đặt Bống ngoài giọt ranh. Trời nắng hanh hao, rồi bất chợt đổ cơn mưa. Mưa tái tê lòng người, em tôi dầm mưa ướt sũng. Có phải vì thế mà mỗi lần trở về em đều không bước chân quá thềm nhà. Tôi nghĩ, quặn thắt thương em, thương ngoại, thương mẹ và thương mình quá đỗi. Bống ơi!
Sau đám giỗ em, tôi lại đi, lúc ra đến cổng còn tần ngần ngoảnh lại. Thấy mẹ đứng ở đầu hiên nhìn, tôi biết mẹ cứ đứng thế thôi chứ không khi nào mẹ bảo “Ở nhà thêm vài ngày nữa con. Đi gì vội thế”. Tôi đi, những bước chân ngập ngừng, chậm chạp, chỉ mong sao có ai đó ới một câu, tôi sẽ quay lại, sẽ khóc cười, sẽ không bao giờ dời xa miền quê này nữa. Nhưng dường như có sự xuất hiện của tôi ở nơi đây chỉ càng làm cho nỗi đau khơi gợi.
Tôi ra bờ sông ngồi, nhìn chiếc thuyền khai thác cát trôi dọc sông mà bỗng nhiên nhớ em, nhớ bố. Không biết em đã tìm gặp được bố chưa, bố đang ở cõi thực hay đã về cõi ảo? Bao nhiêu năm qua, những chiếc thuyền ngược xuôi mang theo lời đồn thổi. Người thì bảo bố đã xuôi về vùng đất khác, có một cuộc sống bình yên bên người vợ và những đứa con xinh. Người bảo bố tôi lang bạt tứ phương, đâu cũng là quê hương, ngả lưng ở đâu thì đấy là nhà. Nhưng cũng có không ít người bảo bố tôi cùng vài người thợ khác đã bị lũ cuốn khi uống rượu say, ngủ quên trên thuyền đúng đêm thác lũ. Đã nhiều lần tôi định hỏi mẹ về bố nhưng dường như dòng sông đã đổ ập vào bà quá nhiều nỗi đau nên bà không còn muốn đối diện với nó nữa. Mẹ sợ một lần nữa nỗi đau sẽ khiến trái tim bà rệu rã. Tôi rất muốn gặp Bống trong cơn mơ, bởi tôi biết chắc rằng kể cả khi đã về một thế giới khác em cũng khẽ không quên ước mơ đi tìm bố. Còn tôi, tôi đang làm gì trong thế giới này suốt hai chục năm qua? Hay chỉ biết quẩn quanh với nỗi đau trong kí ức?
Bỗng nhiên tôi rất thèm được sống một ngày thật bình yên, quên hết đi mọi nỗi ưu phiền, sống như thể cuộc đời chẳng có gì khiến mình phải đau đớn nhiều thêm nữa. Tôi cũng rất muốn ngoại và mẹ cũng được sống khoảng thời gian còn lại của cuộc đời thanh thản. Bỗng nhiên tôi thấy nhớ bố vô cùng, nhớ một khuân mặt người không mấy khi hiện rõ trong tâm trí của mình suốt hai chục năm qua. Một nỗi nhớ vừa gần gũi vừa mông lung rất lạ. Tôi đã đi qua tháng ngày bằng cách ôm nỗi đau quá khứ để quay lưng lại với những thương yêu thực tại. Tôi tự hỏi bố đã ở đâu, làm gì trong mấy chục năm qua. Liệu bố có nhớ đến chị em tôi loắt choắt chạy ra bờ sông ngóng bố mỗi chiều. Để chờ một que kem mút, để được úp mặt vào ngực bố hít hà mùi mồ hôi, được nắm tay bố vui cười khúc khích. Liệu bố có biết những mùa nắng hanh hao Bống đã nhớ bố đến nhường nào.
Tôi đi tìm bố...

                                                        Vũ Thị Huyền Trang

Đừng buông tay...



Đừng bao giờ buông tay nhau thêm một lần nữa

Anh gọi cho chị vào lúc 12 giờ đêm chỉ để nói với chị rằng anh sẽ đi lấy vợ dù tình yêu đối với chị vẫn còn sâu nặng lắm. 12 giờ đêm, trong xóm quê nghèo, chị khóc òa giữa bao nhiêu nỗi niềm cay đắng. Những ngày chị rời bỏ anh thì anh tìm mọi cách níu lại tình yêu trong chị. Đến ngày chị quyết định sẽ không bao giờ buông tay anh thêm một lần nào nữa thì tự anh lại muốn dời xa chị. Tình yêu đâu phải là chò chơi trốn tìm thuở nhỏ?
Anh hơn chị mười tuổi, đã qua một đời vợ, ngoại hình nhìn qua thấy xấu nhìn lâu cũng không thấy duyên, tính tình thật thà có phần hơi cục mịch. Anh làm chủ thầu các công trình xây dựng ở thành phố Nam Định. Nhờ người quen chị xin vào làm chân nấu nướng cho dân công trình của anh. Thế rồi quen nhau, yêu nhau lúc nào không biết. Nhiều lúc chị bảo:
-Anh vừa xấu vừa già, sao em lại yêu anh nhỉ? Hay là anh bỏ bùa em đấy, nếu anh bỏ bùa thật thì giải bùa cho em với. Để em còn về với mẹ, lấy tấm chồng quê cho yên phận.
Anh cười bảo có bùa thật thì đã sao, sẽ chẳng bao giờ anh chịu rời xa chị.
Nhà chị nghèo, vì nghèo nên chị không được theo đuổi ước mơ trở thành cô kỹ sư nông lâm, mà phải đi làm sớm lấy tiền giúp đỡ gia đình. Quê chị tận trên miền ngược, thu nhập chỉ nhờ vào rừng chè và ruộng đất cằn, mà chè thì bấp bênh nay giá này mai giá khác. Nhà chị lại đông anh em, tuy không phải là con cả nhưng mọi công việc lớn bé trong nhà chị đều phải chung tay gánh vác. Học xong cấp ba, đi làm được năm năm mà ước mơ thuở nào vẫn không nguôi cháy trong lòng chị. Có nhiều đêm, chị mơ thấy mình đứng giữa bạt ngàn màu xanh của núi rừng quê hương. Trên mảnh đất cằn cỗi mẹ vẫn trồng sắn hàng năm sẽ thay một giống cây mới, đạt giá trị năng suất cao cho đời sống người nông dân quê chị thêm no ấm. Từ bé, chị đã rất đỗi yêu thương quê hương, càng yêu thương càng quặn lòng khi thấy quê mình nghèo quá. Nghèo là bởi đất đai khô cằn, là người nông dân không dám thay đổi cây trồng, không có vốn đầu tư, không thử nghiệm. Đã có lúc nghĩ đến những khó khăn trước mắt, chị không ít lần liên tưởng đến hình ảnh con thuyền rách nát và khát vọng vươn tới biển khơi. Nỗi khát khao ấy còn lớn hơn cả tình yêu chị dành cho anh.
Khi đã kiếm được ít vốn, khi kinh tế gia đình cũng đã tạm ổn, chị quyết định vừa làm vừa ôn thi Đại học. Anh bảo sẽ nuôi chị học, nuôi đến khi nào chị tự đứng được trên ước mơ của mình. Chị cười, trách anh sao chưa gì đã tính chuyện nuôi nhau.
Ngày chị đỗ Đại học cũng là ngày chị dẫn anh về nhà ra mắt. Bố nheo mày hỏi:
-Chú nào đây con?
Mẹ thở dài nói nhỏ con gái:
-Đừng bảo với mẹ là mày yêu người này. Còn trẻ đẹp, thiếu gì người mà đi yêu người hơn mình cả mười mấy tuổi hả con? Giàu cũng không ham con ạ.
Chị ôm mẹ nũng nịu phân trần:
-Anh ấy cũng đâu có già và xấu quá. Anh ấy tốt là được rồi mà mẹ, hơn nữa mẹ chẳng từng bảo yêu người hơn tuổi cho già dặn, chín chắn đấy thôi ạ.
Mẹ thở dài:
-Cô đến tuổi này cũng là già dặn lắm rồi. Mà đã tìm hiểu kĩ chưa, bằng này tuổi rồi có khi người ta có vợ ở quê rồi cũng nên, cứ đâm đầu vào rồi lại tự làm khổ mình thôi con ạ.
Người làng ai hiểu thì chậc lưỡi bảo “thôi thì cái duyên cái số nó vồ đến nhau chứ biết làm thế nào được”. Người thì bảo “chắc con bé bị bỏ bùa mê thuốc lú. Rõ khổ”. Những lời nói ấy đều đến tai anh, nhưng anh không nói gì, vẫn vui vẻ nói cười mỗi lúc được gần chị. Thi thoảng vẫn bỏ công việc sang một bên để đưa chị về miền ngược, nơi chị bắt đầu cặm cụi với từng hòn đất. Chị bảo “đất nghèo nhưng vẫn có thể làm giàu được”. Anh thấy thương chị nhiều hơn. Đã không ít lần vì sức ép gia đình và khoảng cách quá xa mà chị tính đến chuyện chia tay, nhưng anh vẫn khẳng định tình yêu của mình dành cho chị bằng những vỗ về yêu thương lúc vui buồn. Để rồi chị nhận ra rằng anh cũng giống như một phần ước mơ của chị, cái mầm hạnh phúc bé nhỏ ấy cũng cần được nâng niu.
Chị ra trường, nhận công tác ở quê, cũng là lúc mẹ anh lâm bệnh nặng. Ước muốn cuối cùng của mẹ là nhìn thấy anh tìm được hạnh phúc cho mình bằng một dám cưới có đông đủ anh em, họ hàng chứng kiến. Mẹ bảo chị:
-Nhà chỉ có một mẹ một con nên mẹ muốn sau này Hùng và con về đây sống còn thắp hương cho bố mẹ, tổ tiên. Kinh tế cũng đầy đủ rồi, con về đây bán hàng, sinh con rồi coi sóc nhà cửa, đất đai. Chứ mẹ không muốn Hùng lên quê con ở mà cũng không muốn vợ chồng con mỗi đứa một nơi. Nếu con thuận lời thì về làm dâu nhà mẹ.
Chị nắm bàn tay gầy guộc của người đàn bà đã hy sinh cả đời để chăm sóc cho người chị yêu thương. Bàn tay đã lạnh đi nhiều vì mưa nắng, vì nỗi cô độc của người già và vì sự héo hắt chờ đợi người con trai yên bề gia thất sau một lần đứt gánh giữa đường. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ để chị mủi lòng. Nhưng ước mơ ươm mầm xanh cho quê hương vẫn chưa làm được, đất cằn cỗi vẫn bạc màu nghèo đói. Và…liệu chị có được vượt qua được những rào cản gia đình để đến với anh?
                                           * * *
Anh ngồi bên mẹ, nghe hơi thở yếu ớt đều đều như những tiếng thở dài của mẹ. Anh là đứa con duy nhất mẹ mang nặng đẻ đau, gắng gượng nuôi anh khôn lớn ngay cả khi bố đã mất, bao nhiêu khó khăn đè lên đôi vai bé nhỏ của mẹ. Ngày anh lấy vợ, mẹ khóc vì mừng vui con đã yên bề gia thất, nhưng nào ngờ cái hạnh phúc nhỏ nhoi ấy của mẹ anh cũng không thể gìn giữ được. Nàng dâu đầu tiên của mẹ ra ra đi mang theo một bí mật mà mẹ không hay biết. Con trai mẹ mắc bệnh vô sinh. Từ ấy đến giờ mẹ vẫn giục anh mau mau lấy vợ để mẹ còn bế cháu. Anh cứ ậm ừ cho qua chuyện vì không muốn mẹ thêm lo lắng. Cho đến bây giờ, khi nhìn mẹ nằm đây vẫn không yên vun vén cho anh, tự nhiên anh thấy có lỗi với mẹ thật nhiều.
Bác sĩ nói mẹ không sống được lâu nữa, tuổi già sức yếu lại thêm bệnh cao huyết áp lâu năm. Tuổi trẻ anh đi tứ xứ giang hồ, đến lúc đứng tuổi rồi quay trở về bên mẹ thì nhận ra mẹ vẫn gần đây mà lại như bóng mây bay ngang qua cuộc đời rồi tan vào hư vô. Trong những ngày chăm sóc mẹ tại bệnh viện, anh đã phải suy nghĩ rất nhiều. Mẹ nói hạnh phúc lớn nhất đời mẹ là có anh, cũng vì có anh trên đời nên mẹ đã vượt qua tất cả những sóng gió cuộc đời. Càng thương mẹ bao nhiêu anh càng nhận ra tình yêu của mình dành cho chị là ích kỉ. Suốt gần chục năm yêu nhau, anh chưa từng khi nào dám thú nhận với chị rằng anh không thể có con. Cũng chính vì chạy chữa khắp nơi không khỏi mà người vợ đầu đã bỏ anh đi. Anh sợ nếu nói ra chị cũng sẽ dời bỏ anh như thế. Anh cứ nghĩ đơn giản rằng nếu trong nhà cần tiếng trẻ con thì chỉ cần đi xin một đứa nhỏ về nuôi, nhưng có lẽ anh đã không hiểu được sự gắn kết thiêng liêng bền chặt của tình máu mủ ruột già. Những điều ấy có lẽ chỉ những người phụ nữ mới hiểu và họ cần có nó như cần một bờ vai, một mái ấm gia đình.
Anh nhớ đã từng có lần hỏi chị:
-Ngoài ước mơ trở thành cô kĩ sư nông lâm, mang màu xanh trù phú đến cho quê hương em còn mơ ước gì nữa không?
Tay chống cằm, gõ nhẹ những búp mang lên gò má chị bảo:
-Em muốn lập gia đình để sinh những đứa con ngoan. Em thích tiếng trẻ con, thích được chăm bẵm, vỗ về, hôn hít chúng.
Rồi chị thở dài bảo giá như chị có thể thực hiện được được những điều tốt đẹp mà mình mơ ước. Ngay lúc ấy anh đã chạnh lòng nghĩ rằng mình không thể là bến đỗ cuộc đời của chị. Cho đến ngày hôm nay khi mẹ anh cần một nàng dâu, chị cần một mái ấm đủ bền vững để theo đuổi ước mơ của mình thì việc anh cần chị dường như đã là điều không thể. Anh tự hiểu được anh không có quyền giữ chị lại cho riêng mình nữa. Chị thuộc về những người dân nghèo ở miền quê ấy, thuộc về mảnh đất khô cằn đang chờ bàn tay người ươm mầm, tưới tắm. Và chị còn thuộc về tiếng cười của những đứa con do chị sinh ra, chăm bẵm chúng. Chính vì thế nên anh gọi cho chị để nói rằng anh sẽ đi lấy vợ. Lúc ấy kim đồng hồ trên tường chỉ đúng 12 giờ đêm, tiếng mẹ anh thở đều nhưng mong manh, yếu ớt. Khẽ gục mặt vào hai bàn tay. Anh khóc.
                                         * * *
Người nông dân đã bắt đầu ươm cây cho dải rừng bao quanh làng. Trung du có phần lớn diện tích là đất feralit trên đá phiến, đá vôi và các đá mẹ khác. Nơi đây có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, có mùa đông lạnh, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện địa hình vùng núi. Vốn có thế mạnh đặc biệt để phát triển các cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới, ngoài cây chè chị quyết định đưa xoài, nhãn vải, đu đủ vào trồng thêm và đưa cây keo, cây tràm trồng trên những dải đồi cao hơn. Ban đầu chị áp dụng trên đồi nhà mình và phần đất để khô cằn lâu năm của bà con chòm xóm. Công việc mới chỉ dừng lại ở bước đầu, còn biết bao nhiêu khó khăn trước mắt. Chính vào lúc này chị cần anh ở bên cạnh biết nhường nào. Vậy mà…
Chị đã 28 tuổi. Ở cái tuổi ấy con gái chưa lấy chồng được coi là gái lỡ thì. Dân làng đồn ra đồn vào nói “hồng nhan thì bạc mệnh”, mẹ chị thở dài mỗi đêm đến héo hắt ruột gan. Cũng chỉ yêu anh, tin anh mà chị dành trọn trái tim mình suốt gần chục năm trời. Bây giờ anh nói một câu chia tay, bỏ lại chị ngồi đây với nỗi buồn khi tuổi xuân đã ở lại sau lưng. Chị đã chấp nhận anh như đã từng chấp nhận những mơ ước và khó khăn của cuộc đời mình. Nhưng chính anh lại là người dời xa chị. Anh nói vì anh không thể có con, không mang đến hạnh phúc cho chị được. Vậy mà anh đã níu kéo chị suốt mười năm. Muốn giận anh, muốn quên ngay anh và đi tìm hạnh phúc mới cho mình nhưng tại sao con tim cứ nhu mì, cứ gọi tên anh mãi…
Đêm nay, chị muốn đi tìm anh, muốn một lần nữa níu tay anh lại. Cho dù anh nói rằng sẽ đi lấy vợ thì chị vẫn muốn đi tìm anh. Bởi tình yêu của chị dành cho anh lớn lao hơn cả những khó khăn, xa cách. Gần mười năm thương nhau đâu phải ít ỏi gì mà sao bỗng nhiên đêm nay anh lại buông tay chị. Chỉ cần nắm chặt tay nhau thôi là được rồi. Nếu chị tìm được anh lần này, chị sẽ bảo anh “đừng bao giờ buông tay em thêm một lần nào nữa”.
Chỉ cần nắm chặt tay nhau thôi là được... 
                                                                HN 11- 2010

                                                         Vũ Thị Huyền Trang

Khu vườn. Bức tranh và những đôi mắt…




Chị lại nhốt mình trong phòng tranh của con gái và ngắm nhìn những đôi mắt đang căng cựa.

                        “Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp
                         Giấc mơ con đè nát cuộc đời con…”
                                                            -Chế Lan Viên-
Chị ngồi vẹo cổ ngắm nắng qua ô cửa sổ. Cái dáng ngồi thất thểu đến tội nghiệp ấy không làm cho mấy vạt nắng vàng đang nhảy nhót ngoài kia bớt lung linh. Chỉ có điều mảnh vườn nhỏ quá, nó chỉ bằng một thẻo đất nhỏ mà ở quê người ta vẫn thường chừa lại làm lề. Thế mà chị cố trồng được đủ thứ, hai dãy hoa sen cạn chạy dài, một giàn hoa tầm xuân leo kín tường, một cây ớt lúc nào cũng sai quả lúc lỉu để bố chồng ngâm măng. Riêng phần của mẹ chồng là mấy cây đinh lăng, vài ba bụi cối xay, cỏ sữa, cam thảo đất. Toàn mấy thứ thảo mộc chị lấy tận quê ngoại xuống để mùa hè bứt cành phơi uống nước cho hạ nhiệt. Vậy thôi cũng đã chật cứng cả vườn, chật đến mức muốn đi hái thứ gì là phải lách nghiêng chân để tránh dẫm vào cây cỏ. Thế mà mấy hôm nọ chồng chị mua về cả đống hạt rau diếp cá, xà nách, húng chó, tía tô... Anh bảo trồng lấy một khoanh để mỗi bữa có rau sống mà ăn. Anh nhìn một lượt khu vườn, chỉ đúng chỗ hai hàng hoa sen cạn rồi bảo “hoa hoét làm gì, có ăn được đâu”. Nói xong phăng phăng nhổ hết hoa của chị và gieo hạt rau xuống đó. Đấy là cái lí do của mấy ngày hôm nay chị hay ngồi nghển cổ nhìn ra mảnh vườn tiếc nuối…
Chị đang ngồi ước giá mà lòng chị cũng nhảy nhót reo vui được như những tia nắng kia, thì tiếng chuông điện thoại bàn đổ dồn khiến chị giật mình vỡ vụn dòng suy nghĩ. Ở đầu dây bên kia anh dặn gọn lỏn vài từ “Anh bận. Không về ăn cơm đâu” rồi cúp máy. Chị thở dài nghĩ ngợi, con thì đứa đi du học đứa về quê ngoại nghỉ hè, chồng thì đi nhậu nhẹt vậy còn nấu nướng làm gì cho mệt, chị thì ăn linh tinh gì chả được. À! Phải nấu chứ, không nấu lấy gì cho con mèo lười ăn, tính nó rất quái bữa nào cũng phải có cơm trộn cá. Mà phải là cơm nóng, chứ mấy hạt cơm nguội khô là nó ngoảnh mông đi một mạch không thèm đắn đo. Có nhiều hôm thấy chị vắng chồng con ngồi nhai cơm nguội một mình bị nghẹn nấc nên nấc xuống. Nó ngồi chễm chuệ trên cửa sổ kêu ngoeo ngoeo ý bảo “đấy bà chủ thấy chưa, cơm khô khốc thế đến bà còn nuốt không nổi cớ sao bắt tôi ăn”. Chị lườm lườm nó trách “mày thì làm được cái gì, chuột thì không có để bắt, suốt ngày chỉ kêu đòi ăn luốn cuốn vướng chân”. Nhưng mà nếu không có nó bầu bạn, chắc chị sẽ héo rũ trong mùa hè này mất.
Lúc chẳng có việc gì làm, chị mang những bức tranh của đứa con gái lớn ra sắp xếp lại. Nếu chị không động tay vào chúng thì bụi sẽ phủ mờ, bụi còn sẵn sàng nhấn chìm cả phòng vẽ trên tầng bốn. Từ khi nó đi du học, căn nhà này như tắt hẳn một mảng màu rực rỡ, màu của tuổi trẻ. Chị ngồi nhớ khi nó còn ở nhà, nó thường diện đồ rộng thùng thình, cắt tóc ngắn như con trai, miệng cười tươi như hoa và trốn nhà đi bụi như cơm bữa. Chả cần son phấn, mascara cũng chẳng cần nề hà phép tắc, chị cảm tưởng con bé cứ sống hồn nhiên bản năng như cây cỏ. Gặp gió thì lay, gặp mưa thì mát, gặp nắng thì trổ hoa ngông nghênh, thách thức. Ấy vậy mà chính chị lúc nào cũng mong muốn uốn nắn, bẻ cong cái mầm xanh mơn mởn ấy giống như người ta uốn bờ rào, cây cảnh để mãn nhãn người đời. Cuối cùng thì được gì? Con bé căng cựa vuột xa vòng tay chị. Thời gian đầu chị đã từng rất đau khổ vì nghĩ mình đẻ con ra mà mất con, đến ngay cả tâm tính nó thế nào chị cũng không nắm bắt được. Nhưng bây giờ mỗi khi ngồi một mình trên phòng vẽ của con, chị lại nở một nụ cười pha lẫn chút tiếc nuối xót xa. Chị mừng vì nó ít ra đã dám sống thật với bản thân mình. Hơn chị của ngày xưa…
                                             * * *
Chị ngày xưa từ quê lên phố học. Bươn trải trầy trật mới tồn tại vất vưởng ở thành phố này. Giống như hầu hết những đứa con gái tỉnh lẻ khác, chị mơ ước được ở lại thành phố này. Không hẳn vì chị thích sự năng động nơi đây, nói đúng hơn là chị đã mệt nhoài. Nhưng chị sợ cảm giác bị thất bại khi phải lủi thủi về quê. Sợ sẽ chìm đắm trong những ngày dài ở quê chờ việc. Sợ nỗi ám ảnh nghèo đói, vất vả của đời chị sẽ kéo dài cho đời con cái sau này nếu cứ bám lấy miền quê khốn khó. Chị bắt đầu kiếm tìm mọi cơ hội cho mình, giống như đi tìm một tấm vé thông hành để trở thành người thành phố. Ước mơ của những đứa con gái tỉnh lẻ lúc ấy chỉ có thế. Nó mãnh liệt hơn tất thảy mọi nhu cầu. Nó vùi lấp những mơ ước cao đẹp khác. Dù cho không ít người có miễn cưỡng phủ nhận nó nhưng vẫn cứ lao vào cuộc kiếm tìm điên cuồng trong cái vẻ thản nhiên thường thấy.
Chị đẹp. Đàn ông theo chị nhiều, giàu sang hay nghèo hèn đều có, trai tỉnh lẻ hay trai Hà Nội cũng đủ cả. Sẽ là dễ dàng có được tấm vé thông hành làm công dân thành phố lâu dài nếu như trái tim chị lại không chót yêu một chàng trai nghèo tỉnh lẻ. Sự đời vốn cứ thích chéo ngoe như thế mới đủ thử thách con tim. Mới có một ngày như hôm nay chị ngồi đây mà tiếc nuối. Suy cho cùng chị cũng giống như con nhện sống ba nghìn năm trước cửa miếu Phật bà Quan Âm(*). Hàng ngày ngập trong khói hương và những lời cầu khấn  vẫn chỉ ngộ ra rằng ở đời thứ quý giá nhất là thứ không có được và thứ đã mất đi. Dù sau đó khi nhện được phật cho vào sống cõi người dưới thân xác Châu Nhi. Để rồi trải qua nhiều buồn đau cuối cùng đã nhận ra thứ quý giá nhất chính là hạnh phúc hiện đang nắm giữ chứ không phải là thứ không có được và thứ đã mất đi. Còn chị chắc kiếp trước tu chưa thành tâm nên kiếp này vẫn chỉ tiếc giọt sương từng đến bên đời mình rồi rơi vỡ mất. Hình như ai trong chúng ta cũng vậy thôi, mỗi người mang giấc mơ về một giọt sương đã được cơn gió Trường Phong mang đến rồi mang đi sau khi lỡ gieo vào lòng ta giấc mơ lấp lánh màu hạnh phúc. Thế nên chị cứ nhớ mãi về người đàn ông đó, người mà chị đã từng yêu.
…Người từng vẽ lên trong kí ức chị một giấc mơ bình yên ấy là Phương. Phương từng bảo:
-Chúng ta sẽ hạnh phúc trong một ngôi nhà nhỏ có khu vườn rất rộng. Đất đai quê anh trù phú lắm, cánh đồng và gió trời, tiếng chim và hương hoa. Nơi đó em cứ việc trồng thật nhiều loài hoa mà em thích, một vài cây vú sữa cho các con và thật nhiều vị thuốc. Em ở nhà viết văn chờ anh sau mỗi chuyến chở hàng về là ngôi nhà lại tràn ngập tiếng cười. Nên hãy theo anh về quê đừng bon chen chốn đô thành này không hợp với em đâu.
Chị coi đó là một lời cầu hôn nhưng đã bị chối từ dù anh đã vẽ ra một thế giới bình yên chị đã từng ước mơ trong thẳm sâu ý nghĩ. Chị chối từ vì chị sợ những giấc mơ đẹp đẽ quá thường không thành hiện thực. Nhất là khi nghề lái xe đường dài của anh với bao nhiêu trắc trở sao có thể trở thành bến đỗ bình yên của chị. Chưa kể về trình độ học vấn và hoàn cảnh gia đình Phương cũng thua kém chị nhiều. Chị yêu Phương thật lòng nhưng chị cần một người đàn ông giỏi giang hơn mình mới có thể chở che cho chị cả cuộc đời. Phương đã xoáy vào lòng tự ái thẳm sâu trong chị khi nói rằng thành phố này không phải là nơi dành cho chị. Chị sợ cảm giác thất bại. Phải rời bỏ một nơi nào đó trong hối tiếc cũng là một thất bại. Vì thế chị đã chọn Phan để là người bám trụ lại Hà Nội duy nhất trong số đám bạn thân hồi đại học. Chiếc vé thông hành đã có, chị quay cuồng nửa đời người ở đất này ngoảnh lại thấy cô đơn một cõi…
Xót xa tìm thương nhớ tuổi đôi mươi…
                                         * * *
Chị ngồi lau bụi trên từng bức ảnh của con. Mỗi vệt lau lại hiện ra một mảng màu mơ ước. Bức tranh nào cũng ẩn hiện một cánh cửa, cánh cửa đó bị đóng kín nhốt chặt một đôi mắt đang hừng hực lửa như muốn thiêu đốt tất cả. Chị có cảm giác như có cái gì đó tức tưởi, muốn căng cựa, giãy giụa để trốn thoát sự kìm hãm, tù túng. Chị nhìn rất kĩ từng bức tranh, trái tim chị đau buốt khi nghĩ về những ngày dài nhốt chặt con trong phòng vẽ. Chị giả vờ như không nghe thấy tiếng đập cửa, tiếng gào khóc van xin của con. Chị chỉ nghe thấy sự hả hê trong trái tim một người mẹ đã từng bất lực về đứa con ngang bướng. Những ngày sau con hoàn toàn câm lặng. Dù cho chị hoảng sợ đã mở toang cánh cửa thì con vẫn ngồi đó không bước chân ra thế giới bên ngoài. Chỉ sống nhờ thùng mì tôm, nước lọc và một cái nhà vệ sinh khép kín. Lúc nào chị bước vào cũng thấy con cặm cụi vẽ. Những cánh cửa và đôi mắt, chớp mi tựa mặt hồ thu…
Chị thích tất cả những bức tranh con vẽ như thể con bé không chỉ vẽ cho nó mà vẽ cho cả sự tù túng trong cuộc đời của chị. Chị đã sống quá nhiều cho lý trí. Giống như một cỗ máy luôn được nâng cấp, lập trình những thứ hiện đại nhất. Cuộc đời đã nhấn nút, cỗ máy cứ thế mà hoạt động. Người máy thì không có trái tim. Còn chị thì dường như đã đánh rơi trái tim mình ở đâu đó khi mang lời cầu hôn của một người đàn ông thả lên trời. Chị giờ ngồi đây tưởng tượng ra khu vườn thật rộng, chị ngồi đọc sách trên một chiếc xích đu màu trắng. Dưới tán cây râm mát chim chóc hót véo von, vào mùa thu lá vàng phủ đầy lối đi, phủ êm đềm những giấc trưa không mộng mị. Chị sẽ viết những câu thơ mang đôi cánh của gió, mang màu sắc của hoa và tiếng nói cất lên từ tâm hồn chân thật nhất.
Ở mảnh vườn như thẻo đất thừa này hàng ngày chị nhìn những loài cây chen chúc nhau để đón ánh nắng, để mọc chồi, đơm bông. Khi chị ngồi bên cửa sổ đọc sách, những câu chữ như cũng đang căng cựa muốn nhảy bung khỏi trang giấy đóng khung. Mọi thứ đều trở lên ngột ngạt và nhễ nhượi. Thằng nhỏ nhà chị chỉ mong nhanh đến hè là ra tàu về quê ngoại để tránh lịch học hè dày đặc. Để được theo ngoại đắp mương tát tép, được lẽo đẽo theo thằng em con nhà chú đi thả diều trên núi, được lùi lụt ngô khoai nhem nhuốc những ngày hè. Mỗi lần con từ quê điện lên, chị nghe thấy trong tiếng cười vô tư lự của con dường như có chút tiếc nuối vu vơ của chị. Con bảo:
-Dạo này chiều nào ngoại cũng phải lên núi tìm con. Cứ thả diều một lúc thấy gió thổi mát rượi là nằm xuống ngủ quên lúc nào không biết. Con biết chỗ nào ngày xưa mẹ hay mang ngô lên nướng, biết cả chỗ mẹ ngồi trú mưa những hôm đi chăn trâu. Bây giờ cái hốc đá đó mọc lên toàn nấm, nấm gì hay lắm mẹ ạ, có rất nhiều màu sắc.
Chị nghe con kể mà muốn trốn phố về quê. Muốn bỏ lại căn nhà bốn tầng lúc nào cũng thấy thiếu tiếng người. Chồng chị đi công tác suốt ngày, đôi khi chẳng phải vì công việc anh cũng vui thú bạn bè ở một miệt vườn xa lắc lơ nào đó. Hình như trong nhà chị ai cũng chán phố nên bỏ lại ngôi nhà này cho chị trông nom. Chiều nay đứa bạn thân điện hỏi thăm, sau tràng cười giòn tan, sau câu chuyện công việc chồng con, bạn không quên hỏi chị một câu đau đến điếng lòng:
-Thế nào, làm người thành phố có thấy thích không?
Chị bỗng tắt nụ cười, mắt rơm rớm bảo:
-Dạo này chưa gì đã mắc bệnh tuổi già. Ngày nào cũng chỉ ngồi nhớ cố hương thôi.
Bạn lại bảo:
-Mình chuyển về đây công tác đã chục năm rồi, gấp đôi cả quãng thời gian đã sống ở dưới đó. Vậy mà thi thoảng vẫn nhớ phố đến cồn cào nữa là…
-Vậy hóa ra chúng ta thiếu cái gì thì nhớ cái đấy à?
-Cũng có thể là vì ai cũng cần phải có một cái gì đó để tiếc nuối, nhớ nhung. Nỗi nhớ cũng giống như một món đồ trang sức càng đẹp thì càng đắt. Đời ảo nhỉ?
Chị cười bảo bạn dạo này học đâu cái thói ưa triết lý. Ở đầu dây bên kia không thấy có tiếng cười. Nắng bên này cũng tắt. Con mèo nằm quận tròn trên cửa sổ lim dim mắt. Chị lại nhốt mình trong phòng tranh của con gái và ngắm nhìn những đôi mắt đang căng cựa.
Vũ Thị Huyền Trang