Showing posts with label truyện tình hay. Show all posts

Giấc mơ độc mộc…


Những dấu chân tuổi trẻ em qua
Hoa cũng sẽ vì em mà thắm…

Tôi tưởng tượng ra dấu chân nơi em từng đi qua còn in lại hình những chiếc thuyền độc mộc. Mà ở đó tràn ngập sắc nắng hương hoa được thả trên chòng chành xúc cảm. Tâm hồn tôi từng neo đậu ở đó những tháng ngày dài để ước ao, nuối tiếc dù tôi và em chẳng thân thiết nhau là mấy. Em học dưới tôi vài lớp, khi tôi tốt nghiệp thì em đi du học nước ngoài. Em chọn Pháp là nơi kí gửi một phần tuổi trẻ với những làng hoa, những con sông, những cánh đồng đẹp như cổ tích. Còn tôi đã chọn em để gửi giấc mơ thầm kín của mình. Giấc mơ vượt thoát khỏi căn phòng chưa đầy mười mét vuông giữa nơi chỉ thấy tắc đường, thực phẩm độc hại và giá đất ảo đến xa xẩm mặt mày.
Em có cái tên đẹp như thơ và gợi nhiều hoài niệm nhưng tôi thích gọi em là V. Giống như mật mã giấc mơ mà tôi đang giấu kín. Em không đẹp nhưng em mang khuân mặt của một kẻ lãng du bụi bặm sương gió dặm trường. Chỉ nụ cười là đủ ấm áp cho những mùa đông lạnh giá ở xứ người. Tôi cũng có một nụ cười như em nhưng dường như nó được đính sẵn trên môi để làm vật trang trí cho vui mắt người đời. Bởi tôi chỉ giữ lại cho mình niềm khắc khoải khôn nguôi trong đôi mắt. Người ta gọi tôi là Rêu, giống như cách người ta gọi em là Cá, gọi một vài sắc trẻ là Mục, là Keng, là Gió… Những thanh âm ấy rơi xuống giữa vời vợi đời sống để rồi rất dễ bị chìm nghỉm, bị nuốt trọn trong cái xô bồ. Tôi cũng bị rơi như thế bỏ lại vài cái sủi tăm rồi chìm hẳn. Tôi mừng vì em đã ngoi lên, bơi về phía đại dương một mình một bóng cá chim trời. Vừa thong dong vừa nỗ lực. Nhỏ nhoi nhưng đầy kiêu hãnh…
Tôi ngủ trong giấc mơ của V khi lần đầu tiên em đặt chân đến làng Beuvron-en-Auge. Đó là một trong những ngôi làng xinh đẹp nhất vùng Normandy nước Pháp mà tôi mới chỉ biết qua sách báo. Tôi thích những giỏ hoa được treo ở khắp nơi trong làng, từ hiên nhà, balcon, dọc hai bên hè đường, thậm chí hoa lả lơi treo dọc bờ các dòng kênh. Kiến trúc cổ kính với mái ngói màu rêu, những ô cửa sổ nhỏ kề nhau bên ống khói nhô lên bầu trời xanh thẳm. Em bước đến đó đứng lẫn trong trong một thế giới sặc sỡ sắc hoa. Đã có lúc tôi giật mình vì tưởng đã mất dấu em trong một thảm hoa nào đó. Giống như tôi đã từng mất dấu đứa em gái út của mình cách đây mười  năm trước…
                                           * * *
Em gái út của tôi cũng bằng tuổi V, có đôi mắt trong tựa nước hồ thu. Khi út ba tuổi, út hay nhìn lén mỗi khi tôi ngồi đan cót. Khi út sáu tuổi, sáng nào tỉnh giấc tôi cũng thấy em nằm im nhìn tôi chăm chú chớp chớp hàng mi cong vút. Tôi bảo:
-Sao út cứ nhìn chị hoài vậy?
Út nhoẻn cười lộ hai núm đồng tiền xinh xắn, rúc đầu vào nách chị thỏ thẻ khiến tôi phải bật cười.
-Vì chị bé đẹp.
Cả nhà cười út sáu tuổi mà biết khen chị đẹp. Út cũng cười bảo “thương chị bé nhất nhà”. Những ngón tay út mềm và đẹp thường nghịch ngợm mái tóc dài của tôi. Tôi thích mỗi lần út dụi mặt vào mái tóc tôi rồi cười sặc sụa. Út khen tóc chị bé mượt đen gội lá hương nhu thơm mát. Những lúc không quấn quýt tôi như một chú mèo con, út thường lẻn đi chơi đâu đó nhiều hôm quên cả đường về. Khi thì là cánh đồng mùa cạn, dọc những bờ cỏ xanh non là bạt ngàn hoa dại li ti nở, li ti thắm, li ti ngát hương trời. Út thích nhất hoa me cạn tím ngát, em nhảy chân sáo hát líu lo thi thoảng lại dừng lại chạm  những ngón măng xinh vuốt ve một bông hoa.
Vào mùa hè em thường trốn lên rừng thoắt ẩn thoắt hiện trong những búi hoa mua tím. Chơi chán út nằm xuống cỏ ngủ quên, để mỗi lần tôi tìm thấy em đều ngỡ ngàng trước một cảnh tượng rất đỗi êm đềm. Trông út giống như một cô công chúa nhỏ hồn nhiên ngủ giữa rừng hoa. Cảnh tượng đó gợi cho tôi niềm xúc động, là nỗi an ủi vỗ về tôi qua những ngày tháng vất vả, nhọc nhằn khi đó. Giữa những khuân mặt người lầm lũi lúc nào cũng chỉ nghĩ đến việc làm sao thoát khỏi cái đói, làm sao kiếm được miếng ăn, làm thế nào để trả được nợ đọng lãi cao. Thì út giống như một thanh âm trong trẻo vút lên khỏi cái nền ảm đạm ấy.
Năm tôi mười ba tuổi, tôi bắt đầu nghĩ về những chuyến đi. Kỉ niệm rõ rệt nhất còn đọng lại trong tâm trí tôi là sân ga lúc chiều tàn tôi vẫn thường ra chờ đón hàng bố gửi từ miền xuôi lên. Nghề đan cót không đủ nuôi sống cả gia đình nên bố phải đi bốc vác cho các bến xe, nhà ga dưới thành phố. Sau này nhờ quen các mối hàng, bố lấy hàng khô gửi về cho mẹ mở thêm quán tạp hóa nhỏ xíu bán kiếm đồng ra đồng vào còn lo ăn học cho cả một đàn con. Thế là cứ cuối tuần tôi lại ra sân ga ngồi nhìn những chuyến tàu xuôi ngược. Âm thanh tiếng còi tàu va vào kí ức vang vọng, hun hút, xa xăm... Tôi cũng thích những ô cửa sổ của đoàn tàu, qua tấm lưới sắt là nhiều đôi mắt đang dõi nhìn về phía sân ga. Tôi tưởng tượng họ đến từ một thế giới xa xôi nào đó, nơi mà tôi chưa từng biết đến. Tôi nhìn theo đoàn tàu xình xịch trôi xa, nhìn những con người ngồi trên đó với ánh mắt thèm muốn và ngưỡng mộ. Tàu đi rồi chỉ còn lại sân ga buồn, lá bàng rơi đỏ thẫm cả chiều tàn…
Út có theo tôi một vài lần ra sân ga chờ hàng của bố. Em hỏi tôi:
-Nếu mình lên tàu thì tàu sẽ chở mình đến tận đâu chị bé ơi?
-Xa lắm!
-Thế bố cũng ở đó đúng không chị bé? Mà ở đấy chắc là đẹp lắm… Mai này lớn lên nhất định em sẽ đến đó. Chị bé có muốn em cho đi cùng không?
Tôi cười, cõng út nhảy tênh tênh trên sân ga. Đó là những buổi chiều đẹp và chúng tôi thường trở về nhà khá muộn. Mẹ đôi khi quở trách vài câu nhưng không hỏi han nhiều. Mẹ không biết rằng trong khi mình đầu tắt mặt tối lo xoay sở kiếm sống thì trong đầu đứa con gái lớn đang loay hoay tìm cách chạm vào những chuyến đi…
                                                    * * *
V bắt đầu những chuyến đi xa hơn cả nước Pháp hoa lệ, bỏ lại kinh đô ánh sáng sau lưng. Nhờ hiệp ước tự do đi lại của một số nước Châu Âu, V bắt đầu đi tham quan nhiều nước trong khu vực Schengen. Sau những ngày làm việc mệt nhoài, tôi trở về phòng trọ lặng lẽ theo dõi từng cập nhật của V trên facebook. Tôi có cảm giác như mình đã đặt mua một vé tàu điện ngầm từ Pari đến thủ đô Amsterdam của Hà Lan. Tôi tưởng tượng ra mình đang ngồi vào chiếc ghế trống ngay bên cạnh V giống như người vô hình. Khi tàu chạy dưới đường hầm, V ngồi dựa người vào ghế, nhắm mắt thư thái nghe nhạc. Tôi sẽ ngắm nhìn thật kĩ khuôn mặt em, tưởng tượng ra từng đường nét của gió, của mây, của sắc màu nghìn hoa nơi em qua đều in dấu trên khuân mặt ấy. Tôi rất muốn nắm lấy bàn tay bé nhỏ của em, những ngón măng nâu màu nắng gió, như xưa từng nắm lấy bàn tay của út. Có lẽ em đã ngủ, một bản sonate buồn nào đó đã đưa em bước vào mảnh đất xa lạ trong những giấc mơ. Tôi cũng ngồi ngả người, nhắm mắt im nghe từng hơi thở nhẹ như dấu chân của gió của em… Và lúc này tôi tưởng như ngồi bên tôi là út. Giống như ngày xưa út hứa, khi lên tàu đi bất kì đâu út cũng sẽ mang tôi đi cùng. Chúng tôi đang đến Amsterdam, có lẽ út thích được ngồi du thuyền lặng lẽ ngắm thành phố có lịch sử đồ sộ nhất Châu Âu đang hiện ra dọc hai bên bờ sông thơ mộng.
Tôi cảm nhận rất rõ nước mắt mình đang rơi khi tôi thấy bàn tay nhỏ nhắn của út đã tan chảy trong bàn tay tôi lạnh buốt. Giống như ngày nhỏ, trời mưa đá tôi đã lao ra sân cố cầm chặt một viên đá trắng muốt để giữ nó mãi mãi cho riêng mình. Nhưng rồi viên đá ấy đã nũa dần trong tay tôi đến khi chỉ còn là vệt nước lan khắp các kẽ tay. Đấy là lần đầu tiên tôi khóc vì cảm giác mất mát, hụt hẫng cứ tràn ngập trong lòng. Khi đó tôi đã bắt đầu mơ hồ cảm nhận được rằng không phải thứ gì mình thích cũng có thể nắm chặt được. Khi đó lần đầu tiên tôi biết rằng đá cũng có thể tan chảy được. Cuộc sống khi nó mang đến một khám phá thú vị thì cũng đồng nghĩa nó đang dạy ta chừa chỗ cho những khoảng trống vốn không thể lấp đầy…
Tôi để tuột tay út vào ngày tôi trốn nhà lên tàu đi tìm bố. Thực ra việc đi tìm bố chỉ là cái cớ giúp tôi đủ mạnh mẽ rời khỏi sân ga chiều muộn để bước lên tàu. Trí tưởng tượng về những chuyến đi đã thôi thúc bước chân tôi đi hoang. Cuộc sống nghèo nàn, đơn điệu mỗi ngày ở miền quê bé nhỏ khiến tâm hồn thơ dại của tôi căng cựa. Hằng đêm tôi hay ngồi một mình ngoài hiên, thấy mẹ đi qua lại miệng lẩm bẩm tính từng đồng lỗ lãi mà thèm mẹ dừng lại quở mắng tôi một câu cho đỡ tủi. Nhưng dường như một bờ vai gầy coi sóc bốn đứa con đã làm mẹ mệt nhoài. Nên chỉ cần chúng mạnh khỏe và được đến trường là mẹ vui rồi còn chúng nghĩ suy những gì mẹ không thể biết. Thiếu đi sự chở che của bố, cái vỗ về của mẹ cùng những buổi chiều muộn ngồi đợi tàu trong sân ga. Tôi đã bắt đầu cho một chuyến đi dài của cuộc đời mà chưa biết khi nào mới thực sự kết thúc…
Chuyến đi hôm ấy giống như một giấc ngủ dài nhiều mộng mị mà tôi ước mình đừng bao giờ tỉnh giấc. Tôi không nghĩ mình phải trả giá nhiều đến thế. Khi tôi còn chưa kịp biết gì về vùng đất mới nơi vừa đặt chân đến thì tôi đã đánh mất linh hồn mình trong đôi bàn chân bé nhỏ của út. Tôi đi, út một mình ra sân ga tìm chị. Không biết có phải tại những bông hoa me cạn nở tím tái sân ga. Hay tại vì em mường tượng thấy hình ảnh tôi lấp lóa trên những toa tàu khiến đôi bàn chân bé nhỏ ấy líu ríu không kịp tránh đoàn tàu đang vào ga. Út bị tàu hất tung ra, tai nạn khủng khiếp ấy cướp đi đôi chân của út còn đầu óc thì lúc tỉnh lúc điên. Tôi trở về sau chuyến đi hoang ấy và bắt đầu những tháng ngày dài sống trong nỗi giày vò câm lặng…
Những lúc tỉnh táo út thường hỏi tôi:
-Điểm dừng cuối cùng của chuyến tàu ấy là ở đâu?
-Xa lắm!
-Ở đó chắc là nhiều hoa đẹp lắm phải không chị bé?
-Chị đã không nhìn thấy bông hoa nào ở đó.
Út nghiêng nghiêng nhìn tôi như thể không muốn tin rằng ở một vùng đất mới xa xôi lại chẳng có điều gì thú vị. Tôi nhìn vào đôi mắt đen láy hồn nhiên của út cảm giác như đang bị hút xoáy vào một thế giới khác. Thế giới  của những giấc hoa tràn ngập sắc màu. Cho đến khi út chớp hàng mi cong, khép lại đôi mắt đen láy và trả tôi về với thế giới thực tại thì những cánh hoa bay vẫn ám ảnh từng suy nghĩ của tôi. Út dần lớn lên bằng những buổi chiều ngồi trong nhà ngóng hoàng hôn qua cửa sổ. Tôi đã trồng rất nhiều hoa trong vườn, để lúc nào út cũng thấy một cảnh tượng tươi đẹp đang ngập tràn xung quanh em. Nhưng có lần út bảo em không thể nào chạm vào những bông hoa ấy được, mỗi lần em chạm tay vào thì sắc hoa đều tan chảy. Sau này tôi hay bắt gặp út ngồi ngồi hướng ra cửa sổ và nhắm chặt mắt. Em bảo chỉ có cách đấy mới giúp em có thể chạm vào thế giới các loài hoa, ngửi thấy mùi hương thơm lan tỏa trong nắng mới. Thi thoảng em lại mở mắt hoảng hốt gọi “chị ơi!” như thể em sợ tôi lại bỏ rơi em thêm lần nữa…
Đêm. Khi chúng tôi nằm bên nhau, út hay nói về những giấc mơ. Mơ thấy mình mặc bộ váy trắng bay lên nền trời xanh thẳm. Trên trời gió rất mát, dưới đất cỏ rất xanh, em lướt qua từ vùng đất này đến vùng đất khác, từ bình minh đến hoàng hôn. Tôi hỏi út nhìn thấy những gì? Em bảo nhìn thấy con tàu mà chị từng đi. Thấy ánh mắt chị lấp lánh niềm vui. Tôi lại hỏi út còn nhìn thấy thêm điều gì nữa? Em cười ỏn ẻn bảo còn nhìn thấy chính em chiều đó ngồi chờ chị ngoài ngõ đến tối mịt. Tôi hỏi em có khóc không? Em không trả lời dụi mặt vào lòng tôi như con mèo nhỏ. Nhưng tôi thì biết mình đang khóc…
Năm mười sáu tuổi, sau một đêm út bảo “Chị có thể mang em đi xa được không?” rồi nằm im trong vòng tay tôi ngủ ngon lành. Sáng ra em không tỉnh lại để ngắm xác hoa rụng rơi ngoài cửa sổ. Đêm trước bão to gió lớn những hàng hoa đã tan hoang. Bão cũng đã quật tả tơi trái tim tôi suốt những mùa dài khi không còn em bên đời nữa. Từ đó tôi bắt đầu rơi vào trạng thái chênh vênh, sống co mình trong chiếc kén buồn đau mà không cách nào thoát khỏi. Trong cái kén ấy, tôi loay hoay nhìn xung quanh mình và bắt đầu cảm thấy sợ hãi nếu một ngày nào đó bên cạnh tôi không còn ai thân thương nữa. Nó cũng giống như những tia sáng lấp ló cuối cùng đang chiếu vào chiếc kén ấy bỗng dưng vụt tắt. Sẽ là một thế giới tối tăm không lối thoát. Tôi bắt đầu vùng vẫy, căng cựa để nắm chặt thứ ánh sáng diệu vợi ấy. Đến lúc này tôi mới biết mình yêu gia đình nhiều đến nhường nào. Tôi không bao giờ còn muốn bước chân lên bất cứ chuyến tàu nào để phải rời xa họ nữa. Tôi không còn dám nghĩ về những chuyến đi… cho đến khi tôi gặp được V.
                                              * * *
Gần đây nhất, tôi gặp V đang lang thang trên cánh đồng hoa lavender ở vùng Luberon nước Pháp. Em đi đôi giày vải, mặc một bộ váy trắng, trên đầu đội chiếc mũ rộng vành nhiều màu sắc. Trông em giống một cây nấm nhỏ di động đang bước chậm rãi, ngửa cổ hít thật sâu bầu không khí của miền quê trong lành nơi đây. Tôi đã từng nghe nhiều về những ngôi làng một nghìn năm tuổi đầy mộc mạc, tinh tế với sức hút diệu kì. Với những con đường màu nâu vàng nhạt, những vách đá màu đỏ, những vườn cây ăn trái sum suê và góc chợ quê bán đầy hoa lavender khô bó thành từng bó nhỏ. Trong một quãng đời nào đó của tuổi trẻ, tôi đã từng ao ước giá có một cơn gió, một phép màu nào đó thổi cuốn tôi đi rồi thả xuống giữa cánh đồng hoa lavender biếc tím.
Tôi cứ đi theo V lặng lẽ như một chiếc bóng. Rồi dừng lại trên sườn đồi một ngôi làng nhỏ. Tại đây tôi ngồi dựa vào vào một gốc cây, mải miết ngắm nhìn V đang ùa xuống cánh đồng hoa tím bằng tất cả niềm vui sướng, thỏa thuê và nông nổi. Bây giờ đang là cuối tháng tám, những cánh đồng hoa lavender đồng loạt khoác lên mình chiếc váy dịu dàng màu tím. Giữa bạt ngàn sắc tím đó tôi như thấy lấp lánh nụ cười của út trôi vào tiềm thức. Tôi ngồi đợi út ngủ một giấc rất dài trên cánh đồng hoa. V đã mang tôi đến đây giống như ngày nhỏ út từng hứa sẽ mang tôi đến bất cứ vùng đất mới nào mà em được đi qua. Hôm nay út mặc váy màu trắng, đi đôi giày vải và đội một chiếc mũ rộng vành… Hoa levender tím đến tái tê lòng…
Sau những chuyến đi mường tượng ấy. Tôi trở về với cuộc sống thường nhật trong một phòng trọ chật trội giữa lòng thành phố. Nhà ông bà chủ có nuôi một con gà trống, đêm nào đó cũng gáy khản cổ rất lâu mà không một tiếng gáy nào đáp lại. Những lúc ấy tôi hay nghĩ về út, về những chuyến đi. Nhưng tôi có cha mẹ già cần phải chăm sóc. Tôi có những ám ảnh khôn nguôi của thuở đầu đời kìm hãm bước chân tôi. Chỉ khi chạm vào thế giới của V tôi mới thấy mình thật sự được giải thoát. Giống như V cũng vịn vào  chuyến đi để phóng sinh cho những lo sợ hạn hẹp của đời người.
V rất biết cách sống chậm lại sau một chuyến đi dài. Như thể khi tôi tỉnh dậy ở phòng trọ chật chội này thì ở một đất nước xa xôi em đang mở toang cửa sổ đón nắng mới tràn vào. Một lọ hoa nhỏ được đặt bên cửa sổ, dường như hoa là thứ không bao giờ thiếu trong ngôi nhà nhỏ của em. Hoa V mang về rong ruổi đường dài cho bớt nhớ những dấu chân. Tôi thích hình ảnh em ngồi bó gối ngoài cửa nghiêng mắt nhìn nắng nhảy nhót trên bức tường rêu. Em bé nhỏ thế thôi mà gieo vào lòng tôi cảm giác bình yên đến lạ. Lần gần đây nhất chúng tôi nói chuyện với nhau, V kêu nhớ trường lớp cũ và những con người Hà Nội. V hỏi tôi:
-Mọi thứ có thay đổi nhiều không chị?
-Cũng như em thôi. Em cũng đổi thay nhiều. Hà Nội chật chội hơn rồi, không biết khi trở về em còn có thể yêu nó hay không nữa…
-Em được sinh ra và lớn lên ở đó nên chắc sẽ tìm được lý do để mà thương yêu nó. À! Mẹ mới viết thư sang hỏi em ra trường rồi đã xin được việc chưa? Nếu không xin được việc thì về nước. Em chỉ muốn xin một công việc bình thường ở đây để dành thời gian khám phá những vùng đất mới. Em còn nhiều nơi muốn đến, nhiều con người em muốn gặp.
Đấy là lần đầu tiên chúng tôi nói chuyện với nhau gần gũi thế. Tôi bất chợt nhớ về chuyến đi hoang của mình năm mười ba tuổi đầy khờ dại. Nên không đừng được lòng mình mới hỏi V:
-Vì sao ngày đó đang học dang dở bên này em lại tính đến chuyện đi du học một cách bất ngờ như vậy?
V cười bảo:
-Lúc ấy em đi vì muốn quên một cơn “say nắng”. Nhưng bây giờ em đi chỉ đơn giản vì lòng còn muốn đi, chân còn muốn bước.
-Chứ không phải vì một người đàn ông luôn giấu mặt đằng sau những bức hình lung linh đó hay sao?
-À! Chị thấy đấy, em cũng rất khôn khéo khi biết gói ghém thật kĩ báu vật của đời mình đấy chứ. Anh ấy là một món quà mà cuộc sống đã mang lại cho em từ những chuyến đi. Khi nào về thăm nhà, em sẽ mang anh ấy về cùng.
Chúng tôi kết thúc câu chuyện vào mùa thu. Những giấc thu êm đềm ngủ trên môi V cười lịm ngọt. Tôi về quê ra thăm mộ út, thấy những bụi cây cũng dại cũng đã nở vàng hiu hắt cả một góc nghĩa trang. Tôi khẽ gọi tên út trong niềm hy vọng rằng em chỉ đang chạy chơi quanh quẩn đâu đây thôi. Nếu nghe được tiếng chị gọi em sẽ vội vã chạy ùa vào lòng tôi như lúc bé thơ. Mặc dù tôi biết có thể em đang mặc bộ váy trắng, bay trên nền trời xanh thẳm lướt qua từ vùng đất này đến vùng đất khác như giấc mơ của em năm nào. Mà ở thế giới xa xôi ấy đôi chân của em mang hình hài của gió. Như lúc này gió đang luồn qua các kẽ tay tôi…
                                              * * *
Tôi trở về tỉnh nhà nhận công tác để tiện chăm sóc cho bố mẹ lúc tuổi già. Sau một khoảng thời gian khá dài bận bịu để tập thích nghi với công việc mới. Một hôm tôi qua thăm thì thấy V đã đóng cửa facebook chẳng hiểu vì lý do gì. Điều đó có thể sẽ khiến những chuyến đi tưởng tượng của tôi dần khép lại nhưng tôi biết sẽ chẳng bao giờ là kết thúc cho những chặng đường thơm hương sắc mà em sắp đi qua…

         

Vũ Thị Huyền Trang

Bạn biết gì về mùa xuân?


       
                                           
Câu hỏi ấy Khôi đã lặp lại nhiều lần mỗi khi đứng từ phía sau nhìn tôi vẽ. Tôi hay vẽ những bức tranh rực rỡ về mùa xuân rồi mang treo khắp trong ngôi nhà rộng lớn của mình. Tôi thích mùa xuân nhiều màu sắc và luôn luôn tươi mới, tràn đầy sức sống tựa như con người tôi vậy. Tôi ít khi buồn phiền, có thể vì tôi may mắn được sinh ra trong một mái ấm gia đình hạnh phúc. Lớn lên trong sự bao bọc đủ đầy, sống giữa cảnh thiên nhiên chan hòa khiến tâm hồn tôi thư thái. Nên khi nghe Khôi hỏi vậy, tôi vẫn không thôi ngắm nhìn những bông hoa rực rỡ trong tranh. Mùa xuân là gì ư? Rất đơn giản “mùa xuân là hạnh phúc”. Nhưng sao mắt Khôi buồn?
Khôi về làm bạn cùng tôi từ năm tôi lên lớp sáu. Mẹ xin Khôi trong một ngôi chùa về làm con nuôi. Khi mẹ dẫn Khôi về, nàng nhìn tôi đầy vẻ sợ sệt, trên tóc nàng vẫn còn dính bụi rơm vì suốt ngày ngồi tết chổi cho chùa. Từ khi về nhà tôi, Khôi có hẳn một căn phòng riêng, những bộ váy rất đẹp và cả thầy giáo riêng kèm cặp Khôi đánh vần từng chữ cái. Hai đứa bằng tuổi nhau, mẹ dặn Khôi phải làm em nhưng tôi thích chúng tôi là bạn. Khôi xinh đẹp như một nàng công chúa và rất đỗi dịu dàng. Công việc hàng ngày của Khôi chỉ là làm bạn cho tôi đỡ buồn và rèn cho tôi tính ngăn nắp, gọn gàng. Khôi thường ngồi im lặng nhìn tôi vẽ, cũng đôi khi ngồi làm mẫu cả mấy tiếng đồng hồ một cách tận tụy. Tôi thích sự động viên lặng lẽ ấy nó giống như mạch nước ngầm mát trong tưới đẫm tâm hồn và nguồn xúc cảm trong trẻo nơi tôi. Chúng tôi lớn lên và gắn kết bình yên bên nhau như thế.
Khôi trầm tính, đôi mắt buồn khiến khuân mặt nàng càng thêm đẹp đến hút hồn. Tôi thường bảo mắt Khôi là giếng khơi, nàng chỉ cười bẽn lẽn trông rất dỗi dịu dàng. Nàng có thói quen ngồi nghe tôi kể đủ thứ chuyện trên đời mà chuyện nào cũng một màu hạnh phúc. Nàng quen mặt, biết tính tất cả những đứa bạn hay ghé qua nhà tôi. Quen đến mức khi ra mở cổng nàng nhìn mặt chúng là biết đứa nào qua hỏi bài, đứa nào qua mượn sách còn đứa nào lại sang dụ dỗ tôi cho mượn máy tính chơi điện tử. Trong số những đứa bạn của tôi nàng quý nhất Phong. Đối với Phong nàng cư xử cũng ân cần và  dịu dàng như với tôi vậy. Nhiều lúc tôi đùa:
-Khôi thiên vị Phong nhất đấy nhé! Lý do là gì đây nhỉ?
Khôi cười:
-Có người ghen tị kìa?
-Quân mà thèm ghen tị à? Chỉ hơi tò mò chút thôi. Hay là Khôi đã chót thương chót nhớ người ta? Hay là…
Khôi nguýt tôi một cái rõ dài, nói người đâu mà chỉ tài tưởng tượng những chuyện không đâu. Khi đó chúng tôi mười tám tuổi. Căn nhà tôi ở trống trải hơn do bố mẹ bận những chuyến công tác dài ngày. Nhưng ngoài khu vườn rộng rãi thì vẫn luôn rực rỡ sắc màu của các loài hoa và ríu rít tiếng chim chuyền. Đó là điểm nhấn trong những bức tranh tôi vẽ. Khôi vẫn lặng lẽ đứng nhìn tôi từ phía sau như chiếc bóng.
                                               * * *
Thi thoảng Khôi hay gợi chuyện về một vấn đề nào đó để chúng tôi tranh luận sôi nổi. Ấy là những ngày mưa, khi lòng tôi không đủ tươi vui để thả hồn vào bức tranh còn dang dở. Thói quen ấy có từ khi Khôi đủ lớn khôn để cảm nhận được cuộc sống xung quanh bằng ánh mắt buồn thăm thẳm. Có lần Khôi hỏi:
-Sao không bao giờ Khôi thấy Quân vẽ về những góc khuất của cuộc sống vậy?
-Quân chỉ vẽ những gì mình thích và am hiểu.
-Như thế không sợ thành nghệ thuật một màu sao?
Tôi phá lên cười:
-Khôi thì biết gì về nghệ thuật mà nói như đúng rồi vậy chứ?
-Quân nói thế là Quân coi thường vị khán giả trung thành của mình rồi đấy nhé. Những sắc màu rực rỡ thì cần cho cuộc sống thật nhưng nỗi buồn vẫn thường là thứ chạm đến lòng người nhất đấy.
-Biết vậy nhưng nghệ thuật cũng không thể bắt đầu bằng những điều mà vốn hiểu biết của mình là mỏng manh, hời hợt.
-Vậy tại sao Quân không dành thời gian hòa vào cuộc sống muôn màu ngoài kia để sống và cảm nhận?
-Nhưng Quân yêu cuộc sống của mình đang có. Nghệ thuật chẳng có lỗi gì về điều đó cả.
-Đấy! Chính cách nghĩ và cách sống ấy mới là hời hợt.
Chúng tôi thường kết thúc cuộc tranh luận bằng tiếng thở dài của Khôi. Tôi thường là kẻ thua trong những cuộc tranh luận kiểu ấy, có đôi điều đọng lại trong suy nghĩ của tôi. Nhưng rồi cuộc sống rực rỡ ngoài kia lại cuốn tôi vào những đam mê bất tận. Thứ đam mê không có chỗ cho nỗi buồn, cho những lo toan. Bởi tôi luôn nghĩ tại sao lại phải than khóc khi cuộc sống xung quanh mình quá đẹp. Tiếng than khóc ấy sẽ trở lên lạc lõng và kệch cỡm. Chi bằng ta hãy cất tiếng ca vui của con tim đang căng tràn hạnh phúc.
Mẹ thi thoảng trở về nhà sau đợt công tác nước ngoài, bà nhìn những bức tranh tôi vẽ với vẻ hài lòng. Bà ngắm chúng khá lâu và hỏi tôi:
-Con cảm thấy vui chứ?
-Vâng. Thế còn mẹ, mẹ có thấy vui không?
Mẹ tránh ánh nhìn của tôi, nén một tiếng thở dài rất nhẹ và bảo:
-Mẹ vui. Vui chứ!
Tôi không mấy băn khoăn về tiếng thở dài của mẹ, cứ nghĩ chắc là vài ba chuyện làm ăn không suôn sẻ rồi sẽ tốt đẹp cả thôi. Những bức tranh lại cuốn tôi đi theo từng ngày lấp lánh. Khôi vẫn ở bên cạnh đời tôi thầm lặng. Thi thoảng nàng hỏi những câu hỏi không đâu về công việc của cha mẹ tôi, về những chuyến đi dài của họ. Nàng hỏi những điều ấy cũng bằng thừa bởi vì tôi chẳng mấy khi bận tâm đến công việc và thế giới riêng của cha mẹ mình. Tôi chỉ cần thấy họ trở về nhà một tháng đôi, ba lần. Ngồi ăn chung với nhau một vài bữa cơm, vui vẻ cười nói bên nhau thế là quá đủ. Còn những điều khác biết cũng chẳng để làm gì, ai chẳng có một mảnh trời riêng với nhiều mối quan hệ và ngập tràn xúc cảm.
Nhưng Khôi thì khác, nàng quan tâm đến mọi thứ xung quanh một cách tận tình, thấu đáo. Ngay cả đến mấy con mèo nhỏ dường như nàng cũng thuộc tính nết từng con. Nàng tường tận gia cảnh của người làm vườn, thuộc làu câu chuyện tình yêu của chị nhà bếp với một anh bộ đội chuyên nghiệp đóng quân mãi tận Yên Bái. Nàng còn nhớ cả ngày giỗ vợ bác lái xe. Nàng biết mẹ tôi thích màu gì, món ăn gì, loại đồ uống hoa quả nào. Nàng như một cuốn từ điển sống mà hễ động đến cái gì tôi cũng đều phải hỏi nàng. Nhưng hỏi rồi lại quên, tôi chẳng có thói quen lưu những thứ lặt vặt ấy vào bộ nhớ. Thi thoảng Khôi cũng trách khéo tôi về điều ấy. Nàng bảo:
-Đến một lúc nào đó khi chỉ còn lại một mình Quân với thế giới này Quân có buồn không? Có còn bình thản ngồi vẽ tranh được hay không?
-Tại sao lại không chứ? Nhưng điều đó sẽ chẳng bao giờ là hiện thực vì Khôi thấy đấy cuộc sống của Quân đang rất trọn vẹn. Có một gia đình hạnh phúc và những người bạn tốt như Khôi, thử hỏi còn gì vui hơn nữa. Mà tại sao tự nhiên Khôi lại hỏi vậy, có gì bất an sao?
-À không! Chỉ là đôi khi chúng ta phải học cách đón nhận cả những điều tồi tệ nhất để tồn tại. Như thế thì đến một ngày nào đó khi cuộc sống không được như chúng ta mong muốn thì cũng sẽ đỡ hẫng hụt hơn.
Tôi nhận ra điều gì đó bất ổn trong những câu nói của Khôi nhưng những ngày sau đó vẫn trôi đi bình lặng. Khôi vẫn giữ thái độ bình thản, chỉ thi thoảng lại hỏi tôi những câu hỏi vu vơ. Hỏi rồi lại thôi như thể chẳng có việc gì thì hỏi chơi, hỏi để giết thời gian thôi nên tôi vì thế mà cũng quên khuấy mất.
Khôi đi học một trường trung cấp nấu ăn vì thế cũng ít có thời gian ở nhà hơn. Tôi học Đại học Mỹ Thuật, ngoài thời gian đến trường tôi hay phóng xe ra ngoại thành đi tìm cảm hứng. Thi thoảng trở về nhà thấy nàng đang vui vẻ chuyện trò với Phong tự nhiên tôi thấy bận lòng. Chẳng biết tự bao giờ chúng tôi đã là một bộ ba. Phong hay đến nhà tôi hơn, đến để xem tôi vẽ tranh, có khi ngồi ngắm lũ cá cảnh đang tung tăng trong bể một cách thích thú. Nhưng phần lớn Phong đến để cùng Khôi đọc sách, nấu ăn hay chuyện phiếm. Không hiểu sao đôi khi tôi thấy phiền lòng một cách lạ kì. Tôi sợ Phong cướp đi mất khoảng thời gian Khôi thường dành cho tôi. Sợ Phong chiếm mất vị trí của tôi trong lòng Khôi. Sợ mất một thứ như mặc định luôn thuộc về mình khiến tôi bất ổn. Khôi dường như cũng nhận ra điều đó. Bạn biết đấy, Khôi vốn là cô gái nhạy cảm và đầy tinh tế.
                                           * * *
Tôi vẫn chưa lần nào trả lời được câu hỏi “bạn biết gì về mùa xuân?” của Khôi thì bao biến cố gia đình ập đến. Bỗng một buổi sáng đẹp trời, tôi bình minh bằng một tách cafe và dự định sẽ phóng xe tìm một địa điểm thơ mộng nào đó để thả hồn. Nhưng ngay sau đó bố mẹ tôi đã trở về, nói với tôi về việc họ sẽ ly hôn. Mọi thứ xung quanh tôi ù đi, mờ nhạt và xáo trộn. Tôi không nhớ mình đã vượt qua giai đoạn ấy như thế nào, tôi chỉ nhớ duy nhất thái độ bình thản của Khôi khi tiếp nhận mọi chuyện. Tôi hỏi Khôi tại sao lại có thể bình thản đến như thế? Nàng cười buồn bảo:
-Ấy là Quân không nhìn thấy bão giông vẫn vần vũ trong lòng Khôi mỗi phút giây. Cũng giống như Quân chỉ nhìn thấy những sắc màu rực rỡ của mùa xuân, những mầm xanh đơm chồi, hoa tươi đua nở. Mà không nhìn thấy sự vận động thầm lặng trong vạn vật. Mùa xuân đầu phải đã là ấm áp, khi cuối xuân còn đợt rét nàng bân, rét đến thấu xương. Có khi chỉ một buổi tối thức dậy đã thấy cây xà cừ cổ thụ vẫn lừng lững án ngữ trong vườn vừa hôm qua lá còn xanh mà sáng nay lá đã đổ vàng. Vàng từng đám lá, vài ba hôm sau thì cả cây đã khoác một chiếc áo vàng úa đến tiều tụy.
-Có phải Khôi đã biết trước mọi chuyện đúng không?
-Không phải chỉ mình Khôi biết. Tất cả mọi người sống trong nhà này đều biết. Trừ Quân.
-Vậy tại sao không ai nói cho Quân biết?
-Tại sao cuộc sống của mình, hạnh phúc của mình Quân lại phó mặc cho người khác. Tại sao phải chờ người ta đến rỉ tai rằng thế giới của Quân đang dần rạn vỡ thì Quân mới hốt hoảng, mới chịu dừng mọi mộng ảo và suy xét. Tại sao không cố gắng nắm giữ và vun vén cho hạnh phúc của mình để khi nó tàn lụi rồi mới giật mình trách móc. Tại sao?
Khôi bật khóc nức nở. Từng lời nàng nói như đâm vào lòng tôi nhát dao chí mạng. Lòng tôi trùng xuống tan nát rồi tê liệt. Căn nhà trở nên trống trải, lạnh lẽo đến tàn nhẫn. Tôi mang những bức tranh về mùa xuân của mình đốt hết, từng sắc màu biến hóa trong ngọn lửa ma mị. Tôi như nhìn thấy những nụ cười mọng căng hạnh phúc trước đây giờ thành ra méo mó. Những mảng màu hạnh phúc giờ thành tro bụi. Thấp thoáng trong đốm lửa tàn tôi giật mình nhận ra có nhiều ánh mắt. Ánh mắt đau đáu của Khôi nhìn tôi từ phía sau và ánh mắt Phong khắc khoải…
Trong một chiều mưa tầm tã, chúng tôi đã không còn đủ sức tranh luận với nhau. Nhường chỗ cho những hạt mưa như ngấm sâu vào tiềm thức. Tôi bất chợt quay lại hỏi Khôi:
-Phải chăng sắp đến ngày chỉ còn lại Quân với thế giới này?
Khôi nhìn sâu vào mắt tôi buông một tiếng thở dài:
-Đã không thể còn bình thản ngồi vẽ được nữa đúng không?
-Khôi sẽ không bỏ Quân lại một mình để ra đi chứ?
                                           * * *
Không lâu sau bố mẹ tôi chuyển hẳn khỏi ngôi nhà tôi đang ở để mỗi người tự xây cho mình một mái ấm riêng. Tôi đã bắt đầu học cách chấp nhận mọi chuyện theo quy luật tự nhiên. Khôi vẫn ở lại ngôi nhà để chăm sóc cho tôi. Đã hai mươi năm trôi qua kể từ ngày Khôi được mẹ đưa về và lấm lét nhìn tôi, giờ chúng tôi đều đã thành người lớn. Khôi ước mong sau này khi tốt nghiệp trường trung cấp sẽ mở một cửa hàng ăn uống nho nhỏ. Tôi vẫn đam mê vẽ tranh nhưng lại rất ít khi ngồi vẽ. Những bức tranh của tôi là muôn vàn mảnh ghép, lúc bấn loạn lúc dịu dàng, lúc buồn thảm, lúc tươi vui… Khôi vẫn giữ thói quen đứng từ phía sau nhìn tôi vẽ. Còn Phong đến rồi đi, mang theo vẻ u buồn sâu thẳm. Cửa vẫn rộng mở, tôi vẫn đón chào Phong như đón chào một người bạn thân từng gắn bó lâu ngày nhưng dần dần Phong không còn trở lại ngôi nhà nữa.
Vào một buổi sáng mùa xuân, khi những cơn gió se lạnh luồn qua từng ô cửa. Tôi bất chợt nắm tay Khôi và bảo “Xin Khôi. Khôi đừng ra đi nhé!”.

Vũ Thị Huyền Trang

Đất diễn...



Nhóm chúng tôi có sáu người, chơi thân từ hồi Đại học. Mỗi đứa một quê, một tuổi, một tính cách nhưng lại vô cùng gắn kết với nhau. Nhóm có bốn đứa con gái, hai thằng con trai, đa phần là nghèo chỉ có Vy là được sinh ra trong một gia đình giàu có. Chúng tôi cùng tồn tại trong cuộc sống của nhau bằng vô vàn khuyết điểm. Làm đau nhau bằng những mối quan hệ tình cảm nhì nhằng. Yêu thương nhau bằng những vết đau của đời vẽ hằn trên từng khuân mặt. Và một lý do nữa để sáu đứa gắn kết lại với nhau là bởi vì Hà Nội là đất diễn, chúng tôi cần đến nhau trong một vở diễn bởi không ai lại độc diễn một mình mãi được.
Tôi qua thăm Quang khi anh đang ngồi đánh cờ vua một mình, điều ấy chẳng có gì lạ cả. Tôi bảo:
-Đánh một mình thế này biết thờ vua nào, giết vua nào?
Quang cười khùng khục bảo:
-Loạn hết rồi. Giết được con nào cứ giết cho nhanh hết ván.
-Vậy anh chơi để làm gì?
-Giết thời gian là chính. Còn em làm việc như điên như thế để làm gì? Để chết à?
Tôi cười nhạt, ngồi phịch xuống nền nhà, ngửa cổ nhìn đám mạng nhện giăng đầy trên mái nhà rồi thủng thẳng đáp:
-Ừ! Để chết.
Anh vẫn say mê với bàn cờ của mình, thi thoảng lại nghe một cuộc điện thoại ngắn với những ngôn từ cộc lốc. Thiên hạ đầy người bảo anh cục cằn, khối kẻ nói anh mất dạy. Anh nghe xong, cười khùng khục bảo “kệ mẹ đời”. Tôi thích cái vẻ bất cần đấy của anh, bất cần đủ để không làm tổn thương người khác và cũng chẳng để ai làm tổn thương mình. Quang rất ít nói, ngồi với anh cả buổi chiều cần mẫn chắp nhặt lắm cũng chỉ được vài ba câu chuyện vô thưởng vô phạt dở dang. Anh quan tâm đến tất cả mọi thứ bằng cái cách như chẳng quan tâm gì hết.
 Đôi ba lần trong một tháng đứa này tạt qua nhà đứa kia như chỉ để nhìn thấy nhau vẫn đang còn tồn tại. Cũng có hôm trời mưa Quang gọi cho tôi chỉ để hỏi “bên ấy có mưa không?”. Dù chúng tôi ở cùng một thành phố chật vanh vách, len qua mấy cái ngõ chợ là đến nhà nhau. Cũng có hôm trời Hà Nội bão to, ngoài đường lớn đã bộc rễ vài cây cổ thụ. Tôi gọi cho Quang hỏi đang làm gì thế? Quang cười bảo còn biết làm gì ngoài chơi cờ vua một mình. Tôi nghe thấy tiếng anh lạc đi trong tiếng mưa xối xả và tiếng cửa sổ đập uỳnh uỳnh. Lúc sắp cúp máy thấy tiếng anh cười khùng khục, hỏi sao mà cười? Anh bảo mới nuốt sống một con tướng, thế là xong một ván cờ. Tôi nhìn ra mịt mùng mưa gió mà lòng se sắt. Không đủ sức bấm số gọi cho bốn đứa còn lại. Tự nhiên lại nghĩ dại, nhỡ mà Hà Nội cứ bão to thế mãi…
                                         * * *
Trong số sáu đứa thì Nhu và Chi là hai đứa vô âu vô lo nhất. Mỗi đứa hồn nhiên một kiểu, toàn kiểu chả giống ai. Nhu tin đời một cách nhiệt tình, chẳng bao giờ thấy nó hoài nghi dù đời phũ phàng đập nó túi bụi nhiều lần. Có nói, nó cũng bảo “Tại em kém chị những ba tuổi, hoài nghi sớm quá cuộc đời hóa ra buồn”. Nó nói rồi mang tiếng cười đi lẫn vào đám đông ồn ào chỉ để lại trong mắt tôi vài chấm xanh đỏ từ bộ váy hoa sặc sỡ. Hôm nay có thể bị phụ tình, ngày mai Nhu lại sẵn sàng yêu như chưa bao giờ được yêu nhiều đến thế. Chi nhìn Nhu với cái ánh mắt đầy ngưỡng mộ rồi ngoảnh sang tôi bảo:
-Sau này Nhu nhất định sẽ sướng, chị có nghĩ vậy không?
Tôi nhìn em, nhoẻn cười bảo:
-Em rồi cũng hạnh phúc. Tin chị đi.
Chi thích nghe những câu như vậy. Nó khiến em vui như một đứa trẻ nhỏ cầm trên tay thứ đồ hàng bán mua, tiền bằng lá mà cứ ngỡ là vô giá. Nhưng em khác Nhu ở chỗ, em yêu thương có giới hạn, mọi thứ đều được em tính toán rất sằng phằng. Ai yêu thương em, em yêu thương hết lòng, ai phản bội em, em trả lại họ sự im lặng đủ khiến đối phương đau cả một đời. Em chẳng bao giờ mảy may giằng níu. Đời với em rất đơn giản “sống thế nào thì nhận thế ấy”. Quang cười bảo kể mà hồn nhiên được như Chi cũng là có đẳng cấp lắm rồi.
Đùng một cái Chi lấy chồng, cả nhóm chẳng kịp khuyên răn, dặn dò điều gì. Hỏi sao mà vội vàng thế, Chi tặc lưỡi bảo “lấy cho xong. Đằng nào chả phải lấy chồng”. Chồng Chi đẹp thì không đẹp nhưng giàu có lại được tiếng rất thương vợ chiều con. Đàn ông vừa thành đạt vừa chỉn chu với gia đình như gã hiếm lắm. Lần nào cả lũ có dịp gặp nhau, tôi cũng bảo Chi:
-Gái một con có khác, đẹp đến ngỡ ngàng. Thôi thế là em hạnh phúc rồi. Giá mà đứa nào cũng được như em thì tốt.
Chi không nói gì, chỉ cười với ánh mắt khóe môi vô cùng đằm thắm. Quang có kiểu trêu bạn rất phũ, ngồi múc từng thìa cafe bỏ vào miệng như xúc cơm. Ngắm Chi đắm đuối đã đời rồi tặc lưỡi phán một câu xanh rờn:
-Đúng là gái gặp hơi trai như thài lài gặp… Mà trai đây là phải trai có tiền nhé. Chứ trai nghèo như mình gái nó va vào lại chun mũi như gặp giấm. Thôi mấy em ngồi đấy mà ngậm ngùi làm gì, cố gắng mà làm đẹp rồi chọn giai mà lừa như Chi ý, đời có phải sung sướng không.
Chi ngẩng lên nhìn lướt qua Quang đầy chát chúa. Họ đã từng có một thời rất yêu nhau…
                                             * * *
Hai nhân vật cuối cùng trong nhóm chúng tôi giờ đã thành vợ thành chồng. Vy tiểu thư đài các người Hà Nội yêu và lấy Dương vốn xuất thân trong một gia đình không lấy gì làm khá giả. Lấy nhau xong Dương dọn về nhà bố mẹ Vy sống. Chuyện của họ chúng tôi chỉ biết vậy, dù thân mấy họ cũng không nói gì nhiều. Người ta thấy Dương chiều nào cũng vậy, nếu không tụ tập bia bọt với bạn bè ở quán bia Hải Xồm thì cũng cầm vợt đi đánh cầu lông trong câu lạc bộ. Thiên hạ chẹp miệng bảo “Thằng ấy thế mà sướng. Chuột sa chĩnh gạo”. Câu ấy vốn không dành cho đàn ông, Dương nghe thấy cũng bỏ ngoài tai. Gặp nhau chỉ thấy Dương kể chuyện cười cóp nhặt đâu đó. Đôi khi là những mẩu chuyện cười nhạt nhoét, cả bọn chẳng đứa nào buồn nhếch môi vậy mà Dương vẫn cười sặc sụa. Quang từng bảo với tôi rằng anh không khi nào dám chạm vào nụ cười ấy của Dương. Hỏi vì sao? Quang trả lời cộc lốc: “Sợ vỡ!”. Khi ấy là mùa hạ, chúng tôi vừa chia tay Nhu xong. Chẳng hiểu vì lý do gì Nhu quyết định rời thành phố nhanh đến vậy dù mấy năm sinh viên lúc nào em cũng khăng khăng sẽ bám trụ Hà Nội đến tận cùng.
Hôm ngày lễ 30-4, dân tỉnh lẻ đổ xô về quê còn điểm đến của dân thành phố là các tụ điểm du lịch. Mấy đứa tôi chẳng đứa nào nghĩ đến chuyện về quê như thể chả đứa nào có quê để mà về. Chúng tôi chúng tránh nói về quê hương, như thể sợ chạm vào cánh cửa kí ức luôn được cài then cẩn thận. Mặc cảm về cái nghèo như vô hình đeo bám dai dẳng trong tâm trí chúng tôi. Quang từng bảo:
-Anh xa quê từ năm mười sáu tuổi, lang bạt kiếm ăn khắp nơi. Xin đi học mấy lần bổ túc mới có cái bằng cấp III để thi Đại học. Bây giờ thành kỹ sư công nghệ thông tin rồi mà về quê người ta vẫn gọi mình là Quang cá mắm.
-Hồi xưa chắc anh ốm nhom ốm nhắt hả?
-Không! Người ta gọi là Quang cá mắm vì anh chuyên đi bới hố rác bên doanh trại bộ đội trước nhà để lấy những túi đầu cá mắm họ vứt về ăn. Nhiều khi túi cá mắm bị lẫn đủ thứ rác rưởi hôi thối đầy ròi bọ.
-Thế thì cũng đâu có gì là xấu đâu.
-Ừ thì có ai bảo là xấu đâu. Nhưng có những thứ kỉ niệm mà mình không bao giờ muốn nhắc lại. Nó làm cuộc đời mình luôn có thứ cảm giác dù có cố gắng đến thể nào thì vẫn không thể tinh tươm lên được.
Tôi quay mặt vào tường nằm thở dài. Hình như Quang vừa chạm vào cái dằm vướng víu sẵn trong tim tôi bao nhiêu ngày tháng. Nó giống như một khối u lành tính, tưởng như không nguy hiểm mà vướng víu và ám ảnh vô cùng. Tôi cũng có một tuổi thơ nghèo đói, ngày nào cũng là nỗi ám ảnh ăn rau dại thay cơm. Ngày nào cũng ngồi nhìn đứa bạn thân nhà kế bên vác rá đi vay gạo rồi lại vác rá về không. Ngày nào ở làng cũng có đứa trẻ con say sắn sống. Tôi nhớ ánh mắt con chó Vàng thảm thương nhìn tôi khi nó trút hơi thở cuối cùng vì đói. Cái đói đến người còn không có ăn thì nói gì đến chó. Tôi khóc cạn nước mắt mấy ngày thương Vàng của tôi, chú chó thông minh, tận tụy vẫn hay đưa tôi đi học chiều lại đón tôi về. Cái ngày tôi còn được cắp sách tới trường cứ tức nghẹn, giày vò trong tâm trí non nớt của tôi. Vàng ơi! Vàng ơi!
Ngày lễ 30-4 vì nghĩ mấy đứa kia có gia đình hết rồi nên chẳng dám làm phiền, tôi len qua mấy chợ nhỏ để mò đến phòng Quang. Chợ ngày lễ cho khác, thiếu tiếng bám mua, bới móc nghe cũng có vẻ thơm tho. Tôi ngồi xem Quang đánh chờ hồi lâu, mỏi mắt thiếp đi lúc nào không biết. Lúc tỉnh dậy đã thấy Dương nằm còng queo bên cạnh, hơi thở nồng mùi rượu. Quang vẫn mải mê với ván cờ vua, thi thoảng lại chau mày chửi bới đầy hằn học. Tôi véo Quang rồi hất mặt về phía Dương hỏi:
-Sang bao giờ thế? Có chuyện gì à?
Mắt vẫn không dời khỏi bàn cờ, Quang thở dài bảo:
-Nó sang ngủ nhờ thôi mà. Tí tỉnh dậy lại mò về tổ.
-Sao tự nhiên hôm nay lại vậy?
-Từ lâu rồi, thi thoảng nó lại qua ngủ nhờ một tí. Chẳng qua là em không gặp đấy thôi.
-Hôm nào sang cũng say thế này à?
-Ừ! Hôm nào cũng say như thế.
Tôi ngồi bó gối nhìn Dương. Nhìn hồi lâu thấy nước mắt Dương từ từ chảy xuống nền nhà. Đúng lúc ấy thì Quang cười sặc sụa, tôi thắc thẩm “lại thịt được con tướng chứ gì?”. Quang đứng dậy, vuỗi mông vừa đi ra ban công vừa hát ông ổng “đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng, ngọn gió hoang vu thổi buốt xuân thì…” Tôi nghe mà như có mưa rơi ở trong tim…
                                         * * *
Tôi chủ động gọi cho Vy đúng lúc bé Na quấy khóc ầm ĩ. Giọng Vy khẳn đặc dời dạc đầy mệt mỏi. Nói chuyện được dăm ba câu Vy bảo bận ru con ngủ rồi tắt máy. Tôi xoay qua nhìn bốn bức tường bỗng giật mình nhận ra tường nhà treo quá nhiều gương. Tôi soi khuôn mặt mình nhạt nhòa từng góc tối sáng khác nhau, thử bật cười nhưng thấy trong gương nụ cười méo xệch. Tôi gỡ dần từng chiếc gương đến khi trên tường chỉ còn lại những dấu đinh. Nằm dài, vắt tay lên trán và khóc. Khóc nức nở cho những vai diễn của chúng tôi.
Hà Nội mùa này nhiều lúc đến bực mình với những cơn mưa đỏng đảnh. Có đến nằm ăn vạ ở phòng Quang thì cũng chỉ thấy mưa rơi rách nát cả lòng. Khó khăn lắm mới lôi Quang ra khỏi ván cờ, hai đứa nằm cạnh bên nhau nói những chuyện trên trời dưới biển. Nhiều khi mọi câu chuyện đều bắt đầu bằng thì tương lai “Khi nào giàu…”. Nghe giống như chúng tôi đang bắt đầu kể những câu chuyện cổ tích của thời hiện đại.
-Khi nào giàu em sẽ ra nội thành mua một mảnh đất thật rộng rồi xây nhà vườn. Em sẽ trồng thật nhiều hoa. Anh có tưởng tượng được không, hẳn một ngôi nhà hoa nhé! Cuộc sống mới tươi đẹp làm sao?
Quang cười khùng khục, quay ngắt đầu lại nhìn tôi:
-Một người cả mấy năm không thấy mua một bông hoa nào về cắm như em mà lại chỉ mơ ước về ngôi nhà hoa thì kể cũng lạ thật.
-Biết làm sao được. Cuộc sống ở đây chật chội tù túng quá, em nhìn hoa mà thấy tội không cả lỡ mua về.
Chúng tôi nằm im lặng bên nhau rất lâu, đã bắt đầu cảm nhận được cái nóng hầm hập của nền nhà bốc lên nhờ mưa. Sau khi nằm đếm từng tiếng hạt mưa rơi ngoài mái hiên, như chợt nhớ ra điều gì đó, tôi hỏi Quang:
-Thế còn anh?
-Anh à? Anh mơ ước đơn giản lắm. Sẽ lấy vợ rồi sinh con. Em biết đấy những đứa trẻ đẹp như thiên thần sẽ làm đời chúng ta tươi trẻ lại. Sẽ thuần hóa những ngỗ ngược, bướng bỉnh của chúng ta. Lũ trẻ… lũ trẻ sẽ cho chúng ta thấy đời thật đáng sống!
Câu chuyện nói đến đó thì trời tạnh mưa. Mà kể cũng kì lạ thật, khi mà mấy hạt mưa cuối cùng còn nhỏ tong tỏng ở mái hiên thì trời đã nắng tươi roi rói. Trời đất nũng nịu như một cô gái mười tám tuổi. Quang tiễn tôi ra ngõ, vỗ về tôi bằng cái cách của những thằng đàn ông thường vỗ về nhau. Cũng may nhờ có mấy cái vỗ vai của anh mà thấy đoạn đường về như ngắn lại. Khi tôi vừa về đến phòng trọ thì Vy gọi điện bảo muốn được tôi chạy đến và ôm Vy một cái. Tôi òa khóc như đứa trẻ.
Có lẽ trận mưa ban chiều cũng đã làm mờ hết phấn son…

          Vũ Thị Huyền Trang

Đóng thế...


 
“Tôi lao vào giữa đám đông, nhoài người về phiá chiếc quan tài người ta đặt mẹ tôi trong đó. Phía trên là bát cơm người ta đắp đầy ú ụ cùng với một quả trứng. Còn tôi thì vùng vẫy như một con thú bị chặt mất tay chân, máu chảy mà chưa chết. Ánh nắng, mặt trời thì cứ rọi sâu vào mắt, nung nấu và bức bách. Nhưng tôi không thể tiến về phía mẹ dù chỉ nửa bước.
-Mẹ ơi! Đông lắm! đông lắm, họ kìm kéo con này. Đông lắm!
Rồi tôi thấy chân tay mình bủn rủn, không chịu được nữa rồi. Tôi đang khụy xuống dần dần.
Giật thót mình một cái, một đường máu lạnh chạy từ đầu tôi tới gót chân. Tôi nhận thấy ngực mình đang rơi vào trạng thái nửa tỉnh, nửa mơ. Tôi cố dùng hết sức lực để cử động ngón tay, rõ ràng tôi thấy mình cử động, nhúc nhích, rồi tôi đứng dậy, vén màn ra khỏi giường. Tôi chạy, chạy đi đâu không biết. Thế mà hóa ra tôi vẫn nằm im bất động”
Tôi luôn nghĩ tôi là người đóng thế các nhân vật của chính mình. Tôi tạo ra chúng với những hỉ, nộ, ái, ố…quằn quại trong cái đau mà chúng không thể nào dự đoán hay trốn thoát. Đôi khi với công việc ấy tôi thấy mình là kẻ đáng thương. Đôi khi thấy mình là kẻ độc ác. Đôi khi thấy mình là kẻ vô vị hoặc chẳng ra gì. Tôi là một diễn viên xuất sắc nhìn theo một khía cạnh nào đó.
Anh nhăn trán sau khi đọc xong truyện ngắn của tôi. Anh lúc nào cũng khiến người ta cảm thấy anh đang quan tâm đến vấn đề được nói đến, anh sẵn sàng dành công sức, tâm huyết nếu người ta cần. Anh là thế, ít ra là đến thời điểm hiện tại.
-Sao em không cho nhân vật này chết đi?
-Tại sao lại phải chết.
Anh làm điệu bộ với cái vẻ: “Chết là hết chuyện, mọi việc sẽ suôn sẻ hơn”. Tôi im lặng và tự hỏi mình: “Ừ nhỉ, tại sao mình lại không cho nhân vật ấy chết?”. Câu hỏi ấy lập tức được gạt phăng ra “mình có quyền được tạo ra nhân vật của mình theo một lối riêng”. Chấm hết. Tôi lao vào giữa dòng người đông đúc trong thành phố, tuyệt nhiên không còn cảm thấy vướng bận gì về vai diễn của mình. Bởi ngoài đường còn có quá nhiều vai diễn.
Tôi diễn một người có văn hoá để không vượt đèn đỏ, không chửi bậy lúc tắc đường, không vừa đi vừa nghe điện thoại và cố gắng để không săm soi những người bên cạnh mình. Tôi diễn vai một kẻ đủ tỉnh táo, tinh ranh để chẳng bị thằng cướp đường sơ múi của mình bất cứ cái gì, kể cả là một cái nhìn lãng phí. Tôi đóng tất cả các vai có thể cho đến khi tôi về đến phòng trọ, với một niềm mong mỏi rằng không gặp bất cứ ai để khỏi phải thay trang phục diễn. Thế thôi.
Khi nằm một mình trong nhà trọ chưa đầy 8m2, chật chội, nóng nực nhưng dù sao tôi cũng cảm thấy thật thoải mái. Ít nhất là tôi được yên thân. Cũng có nhiều khi tôi cười một mình, khóc một mình, hoặc vừa cười vừa khóc. Tôi nghĩ khi ấy tôi mới thật là chính mình.
                                                * * *
Tôi viết. Viết trong nhạt nhoà nước mắt mảng màu kí ức của riêng mình:
Con nhớ vào một buổi chiều mẹ rẽ nắng sang sông
Mẹ đi lấy chồng
Mẹ làm vợ lẽ
Có mưa bong bóng đâu mà con mất mẹ
Gần hai mươi năm
                                      nắng vẫn buốt tim người.
Không nghĩ rằng có lúc mình lại đau như thế, cơn đau đến tức ngực và ngộp thở. Muốn phá tan bốn bức tường xung quanh, muốn phá tan mảng sông đầy nắng. Muốn chạy nữa…Chạy mãi…trên bờ cát trắng để những dấu chân in ngược tìm thấy mẹ. Nỗi hận đã làm tôi không một lần đủ sức  sang sông tìm mẹ, gần hai mươi năm trời tóc đã đổ sương giăng…
Không biết rằng đã có biết bao nhiêu chuyến đò giăng trong mắt tôi vời vợi đắng cay mỗi lần trở về thăm quê cũ. Tôi biết mình đang chờ đợi trong mỏi mòn hờn giận, thứ hờn giận mà tôi luôn tự phủ nhận, luôn chối bỏ.
Trong các trang viết của mình tôi thường hay viết về những đứa trẻ không có mẹ, nhưng không bao giờ tôi giải thích sự vắng mặt của người mẹ. Như là đối với tôi việc không có mẹ là một điều tất nhiên, chẳng có gì là lạ cả. Hay tôi viết về sự hoảng loạn của những đứa con vẫn mơ giấc mơ hoang mất mẹ. Sự hoang mang đã ăn vào nhân vật của tôi sâu lắm… Có đâu đó những thắc mắc của người đọc, có đâu đó vài lời giải thích bâng quơ…Tất cả đều nhạt nhoà, tất cả đều chẳng làm tôi thay đổi.
Bói.
Lang thang quanh bờ hồ. Không có việc gì làm, thấy có một người đàn bà ngồi xem bói. Nổi hứng, thế là bói. Thầy phán những điều rất vòng vo, ngoằn nghoèo, kể cả những lời hoa mĩ mà văn chương của tôi chưa khi nào dùng đến cả. Thầy bảo:
-Cái số này là phải hai lần đò mới ổn. Nếu không thì ở goá.
Cười.
Thấy bảo:
-Lấy chồng muộn thôi, thì còn may chăng yên ổn.
Cười. Hỏi:
-Yên ổn là sao thưa thầy?
-Là chỉ phải đi một lần đò thôi, chỉ có điều tình cảm vợ chồng không được mặn nồng cho lắm.
Phá lên cười.
Thầy bảo:
-Cười là mất thiêng.
Im tịt. Không phải vì sợ.
Thầy lại bảo:
           -Con mồ côi phải không?        
Gật đầu. Không hiểu sao tôi lại gật đầu không một phút đắn đo. Chợt thấy buồn. Bố tôi vẫn còn. Mẹ tôi vẫn còn. Bố tôi chỉ đi theo một người đàn bà. Mẹ tôi chỉ đi theo một người đàn ông. Tôi ở lại một mình, thế có phải là mồ côi không nhỉ?
Tự nhiên sống mũi cay cay. Bảo thầy:
-Thôi thầy ạ. Hết bao nhiêu tiền con gửi, thầy đừng xem nữa.
Thầy bảo:
-Tuỳ tâm.
Chẳng biết mình rút tờ xanh hay tờ đỏ. Mọi thứ cứ nhạt nhoà, chóng vánh.
Đi.
Không biết là sẽ đi đâu. Cứ lên xe và nổ máy. Hình như đã đi qua ba cái đèn đỏ, hai cái đèn xanh vẫn chưa thấy cái đèn vàng. Lại đi…ý nghĩ kéo tôi đi vô định…
                                         * * *
Từ đó tôi bắt đầu sống ở một thế giới khác, cái thế giới chìm nghỉm, nghẹt thở như khi mình bị người ta bịt mũi ghì nằm xuống mà hù dọa. Thế giới ấy chắp nối, nó hoang tàn, rơi vãi những cái đời thường mà hàng ngày tôi vẫn gặp. Nó cũng là vùng đất mới với những cảnh vật và con người mới. Tôi lại nghĩ đến những câu chuyện cổ tích đầy tốt đẹp. Tôi cũng có những giấc mơ, nhưng nó không đẹp, những giấc mơ mọc ra từ những chiếc gai nhọn hoắt đâm vào tôi, lăn xả vào tôi. Tôi mơ thấy mình lao xuống một vực thẳm mà chưa ai nhìn thấy đáy. Những đốm xanh đỏ, tím vàng, quấn tôi xuống, xoay tôi chóng mặt. Tôi gọi rất to nhưng cũng chỉ như người đứng giữa vách đá. Tiếng hét đập vào vách vang xa, chỉ tưởng thế rồi chưa thấy đáy đâu thì tôi đã bị xoáy vào một đám ma. Khăn tang trắng con đường quê tôi. Tôi thấy mẹ tôi chết. Rồi tôi cứ khóc kiệt sức mình rồi lại tỉnh. Tôi cứ trông chờ vào những câu chuyện cổ tích, vào những ông bụt bà tiên. Nhưng tôi đợi mãi…”
Lại viết. Viết như một bản năng mà dường như lại không phải bản năng. Định nghĩa về bất cứ thứ gì tồn tại đối với tôi đều không khó, nhưng cứ mỗi khi định nghĩa về bản thân là mọi thứ đều rối tung, rối mù lên cả. Kệ. Thế mới là cuộc đời - Một cuộc khổ ải - Hay là một cuộc chơi thú vị.
Lại buồn, chẳng hiểu sao dạo này mình lại trở nên bất cần như thế.
Mồ côi
Mồ côi
Mồ côi
Thấy chán ghét cụm từ đó vô cùng nhưng nó lại luôn ám ảnh. Đôi khi hơn cả chán ghét là nhói đau, là hờn giận. Không muốn đổ vào đầu nhân vật thế là tắt đèn đi ngủ. Trằn trọc mãi tự nhiên thấy buồn. Cô đơn. Trống rỗng. Thấy mình đúng là mồ côi thật. Chẳng có bất cứ ai bên cạnh cả. Nếu mà mình ốm thì sao nhỉ? Ai sẽ đắp khăn cho mình? Ai nấu cháo cho mình? Ai sẽ dặn mình đừng nằm nhiều, phải đi lại cho đầu óc thoải mái? Ai? Ai? Ai?
Nước mắt chảy dài. Buồn như chưa bao giờ được buồn như thế nếu không muốn nói là đang tuyệt vọng và chán nản. Không muốn nói là cuộc đời vô vị, là mình đang muốn chết.
Thế thôi!
                                                * * *
Chẳng hiểu vì sao lại chọn nghề văn, chẳng hiểu vì sao lại chạm tim đau nhiều thế. Bảo đừng nhớ những cái cần phải quên thì lại nhớ, nỗi nhớ như là mặc định. Đôi khi chẳng hiểu nổi mình với những nỗi buồn vời vợi. Những câu văn đau, những nhân vật phải thay nhau lên giàn thiêu mà cuộc đời vẫn chưa thanh thản. Đôi lúc nhận ra một sự thật mà không biết nên buồn hay lên vui nữa rằng cuộc đời tôi cũng chỉ là một nhân vật bất đắc dĩ trong cuốn tiểu thuyết dài kì của thượng đế mà thôi. Chẳng biết cuối cùng thì thượng đế sẽ cho tôi chết hay là sống, sống hạnh phúc hay là đau khổ nữa…Đôi lúc không muốn cố gắng. Cứ ngồi yên một chỗ. Và phó mặc.
Nhưng ngồi yên thì ngòi bút lại đi, ngòi bút đi vào tâm can con người như vạch ra từng tia máu.
Đôi khi cho nhân vật mình cười nhưng chính mình lại khóc.
Đôi khi cho nhân vật chết đi như chính mình cũng đang phải gặm nỗi đau ấy rồi chết dần mòn.
Đôi khi muốn giết quách cái nhân vật ấy đi mà vẫn phải mỉn cười với nó.
Đôi khi…
Có hàng trăm cái “đôi khi” làm tôi chảy máu. Thế là lại phải đi. Đi để biết nhiều hơn về cuộc đời để đừng chỉ viết về nỗi đau của riêng mình mãi. Có ai đó đã nói rằng nếu người viết cứ mài mòn mãi kỉ niệm, kí ức mà không chịu đắp bồi thì cũng sẽ có ngày trắng tay, nghoảnh đi nghoảnh lại chẳng còn gì mà viết. Có phải tôi đang sợ đích danh điều đó hay không, hay là tôi chỉ đang sợ một điều gì đó còn xa vời lắm…
                                               * * *
“Cũng không nhớ nổi khi nào và bằng cách nào tôi thoát ra khỏi cơn ác mộng hãi hùng như thế. Chỉ biết sau một tháng hành hạ đầu óc và thể xác, tôi mòn mỏi đi nhiều. Các khớp đau dã dời, lưng đã gù càng gù hơn. Đầu tôi ong ong như tiếng trống đám ma, tiếng khóc mướn, tiếng cuốc xẻng va nhau đào huyệt. Trời đất! Tôi sớm muộn gì cũng sẽ thần kinh. Thà thế còn hơn, suy cho cùng sướng nhất vẫn là người vô âu vô lo. Mà là người ai chẳng phải lo nghĩ, chỉ những thằng đần độn, ngớ ngẩn và thần kinh là sướng. Nhưng nhỡ đâu, thần kinh có cái khổ của thần kinh thì sao nhỉ? Thế thì tôi biết phải làm sao? Làm sao bây giờ chứ? Tôi bóp gì hai bàn tay vào hai thái dương. Cảm tưởng như mười đầu ngón tay đang tụ máu. Một ý nghĩ tội lỗi man rợ chợt loé lên. Tôi cười, nụ cười đỏ nhoét, toàn máu ở chân răng: “Sao mẹ không chết đi? Chỉ cần mẹ chết là mình không phải suy nghĩ về bất cứ điều gì. Mình cũng thôi bị ám ảnh. Phải! Sao bà không chết quách đi chứ?
Ai ngờ mấy tháng sau mẹ tôi ốm  thật. Khi bà ốm người ta mách tôi lên tận Sapa lấy thuốc nam may ra mới cứu được mẹ. Tôi lì lợm không đi, cứ đứng chân giường nhìn mẹ trừng trừng tưởng như con người hoá đá tự bao giờ. Cha tôi đưa mẹ xuống bệnh viện trung ương. Bệnh khám đúng, thuốc phát đủ. Vậy mà tim mẹ đập ngày càng yếu đi. Vì bà không lúc nào ngủ hay nhắm mắt. Bà cũng cứ nhìn tôi trừng trừng. Bỗng nhiên lúc ấy, trong tôi sôi lên lòng căm thù mẹ cùng những câu chuyện, những quẻ bói ám ảnh, đeo đẳng bào mòn tôi. Rõ ràng tôi thấy tôi lao vào mẹ, gì chặt cổ đến khi mắt bà trắng dã không nói lên được một lời. Không! Là tôi vẫn ngồi cuối giường, chỉ nhìn mẹ thôi, hai tay vẫn đặt lên đầu gối. Bố và anh tôi bên cạnh mẹ. Sao lại thế. Bác sỹ vào lắc đầu thất vọng. Mẹ chết, mẹ ra đi thật. Tại sao tôi cũng không hiểu được nữa…
Trong cơn mơ, bao giờ đám tang mẹ tôi cũng kêu gào thảm thiết. Nhưng lần này, lần thật sự này, tôi lại không mảy may rơi một giọt nước mắt. Tôi câm lặng bên mọi tiếng kêu gào. Tôi không khóc.”
Bế tắc.
Đôi lúc bế tắc không biết phải viết tiếp như thế nào nữa. Rồi hoang mang… “Phải chăng nhân vật này sẽ không thuộc về mình nữa”. Những lúc như thế tôi thấy dường như tôi không chỉ bất lực trong trang viết mà còn đang bất lực trong chính cuộc sống đời thường. Những lúc như thế tôi hay khoá cửa lại và đi lang thang…Không chủ định là đi đâu, cứ để cho đôi bàn chân bước theo quán tính riêng của nó. Như thế đôi khi cũng hay. Ta giải phóng cho một cái gì đó để lơi lỏng chính cái thòng lọng đang thít chặt cổ ta, thít chặt vào cuộc sống của ta.
Hà Nội những buổi chiều mùa hè ngột ngạt hơn mức người ta vẫn nghĩ về nó. Bụi đường và khói xe vô hình đã ủ lên khuôn mặt bao người một màu sắc khác, mùi vị khác. Vì thế mà không ai muốn cười với ai, không muốn nói chuyện với cả người thân mình đang ngồi đằng sau nữa. Đôi khi chả vì một cái gì người ta cũng sẵn sàng cáu gắt. Và đôi khi tôi cũng muốn gây sự với bản thân mình, cũng chẳng rõ vì một lý do gì nữa.
                                                * * *
“Hóa ra tôi tự đặt cho mình nhiều cuộc đối thoại, tự gây những xung đột tạo nên cảm xúc. Tự dày vò bản thân. Tôi làm thế để làm gì nhỉ? Tôi cũng không biết nữa. Tất cả cứ diễn ra như một quy luật, như một nhu cầu tự nhiên mà tôi cũng không bao giờ nắm bắt được. Tôi nói lảm lảm như thế ở bất cứ nơi nào, miễn là lúc đó không có người, tôi nói khi trong vườn chỉ có những cây xoài già nhăn nhó mình dưới nắng tháng mười. Tôi nói khi đàn gà con rúc mình vào bóng mẹ trong một buổi sáng mùa đông. Tôi nói khi chỉ còn tôi phả chiếc bóng lên tường biểu diễn những màn kịch câm vô thức, tôi nói cả trong nhà xí nơi tôi chốn mình ngồi hàng giờ, nghĩ vẩn vơ. Tôi nói khi ngọn lửa tôi cời vẫn trỗi dậy những khát khao… Còn khi có mọi người xung quanh, tôi vẫn tự tạo cho mình những cuộc đối thoại trong tâm tưởng và bị nó nhấn chìm, cuốn đi, xoáy tít, rồi cũng chẳng biết khi nào tôi tỉnh lại, trở về cuộc sống đời thường? Nhưng ngay cả khi sống trong thế giới của riêng mình, tức là cả khi tôi đang thức tôi vẫn luôn luôn gặp những cơn ác mộng hành hạ tâm trí. Rõ ràng tôi đang ngồi trước mặt mẹ, mẹ đang cặm cụi giã lạc muối, bàn tay mẹ nện chày đều đều. Vậy mà trong óc tôi bỗng hiện ra một thế giới khác. Những vòng hoa mưa gió tàn rũ, đất đỏ hiện ra. Nghĩa địa buồn thê thảm. Tôi khóc tự bao giờ, mà đến khi mẹ giật giọng tôi mới cảm nhận thấy hai hàng nước mắt chảy dài trên má.”
Đêm mơ!
Mơ thấy mình bị bỏ rơi trong một hoang đảo. Không hiểu cái gì đã lôi tôi vứt vào giữa cái thế giới cô đơn ấy, chỉ biết khi tôi tỉnh dậy trong hoang đảo không có cả tiếng một loài chim, không cả tiếng gió. Chỉ tiếng sóng biển vỗ vào cõi hoang mang sâu thẳm. Tôi đã chạy…chạy…chạy mãi vẫn chỉ thấy tiếng bước chân mình vọng lại khoảng không bất tận. Khi tôi sắp ngã quỵ xuống bãi cát vàng tôi giật mình vừa vui mừng, vừa hoảng sợ vì bắt gặp một bóng người đang trải dài phía trước nhưng hoá ra đó chỉ là chiếc bóng của chính tôi. Tôi cô đơn đến tuyệt vọng, tôi hú tiếng hú của vượn gọi bầy, tiếng hú hoang rợn đến mức làm tôi bừng tỉnh và thoát khỏi cơn mơ ấy. Nhưng hoang đảo thì vẫn còn tồn tại trong tâm trí tôi mãi tận sau này. Tôi biết chắc là như thế.
Căn phòng của tôi đêm đó là một hoang đảo ghê sợ. Khi tôi tỉnh dậy, tôi sờ xung quanh giường tôi chỉ thấy một khoảng không, một sự trống rỗng đến tột độ. Không một chiếc gối, không một mùi mồ hôi khác…Và nhận ra rằng đã lâu lắm rồi…Lâu lắm mình cũng không có cả thói quen sờ sang bên cạnh để tìm một chỗ dựa, tìm một hơi ấm thân quen.
Bất chợt! Tôi úp mặt vào bàn tay của mình đang run lên vì cô đơn và khóc. Khóc nức nở, khóc như thể đó là thủ tục cuối cùng của sự sống để rồi mãi mãi không còn tồn tại nữa. Càng khóc càng thấy mình cô đơn, cô đơn hơn cả khi đang ở trong hoang đảo…Tôi chợt nhớ mẹ quay quắt. Tôi thèm được gọi một tiếng “mẹ” vô cùng. Thế là hình như tôi đã gọi trong nỗi cô đơn ấy nhưng hình như không ai trả lời. Tôi vẫn khóc. Tôi nhớ lúc bé mỗi khi đêm gặp ác mộng, khi tỉnh dậy tôi vẫn thường quờ tay sang bên cạnh để tìm mẹ, rồi thể nào mẹ cũng ôm tôi vào lòng và nựng. Mẹ nựng khéo lắm, mẹ bảo trên đời này không hề có ma. Người sống còn không sợ thì làm sao mà phải sợ ma cơ chứ. Mẹ nói rất nhiều nhưng bao giờ tôi cũng rúc vào nách mẹ ngửi cái mùi mồ hôi ấy mà ngủ tự lúc nào. Tuyệt nhiên không còn cảm thấy hoảng sợ nữa. Đêm bình yên đến lạ.
Đêm nay muốn với tay thấy mẹ biết chừng nào nhưng nhận ra rằng mẹ đã xa vời vợi. Không hiểu là tôi đã buông tay ra khỏi mẹ hay là mẹ đã buông tay tôi trước, chỉ biết lúc nghoảnh lại thì đã chẳng thấy mẹ đâu nữa. Bỗng nhiên tôi thành đưa trẻ mồ côi.
Sáng ra!
Muốn sải cánh về dòng sông quê đi tìm mẹ.
Cái cảm giác đầu tiên khi lao vào giữa dòng người là một nỗi vui mừng xen lẫn sợ hãi. Vì tôi nhận thấy rằng cái thế giới mà tôi đang sống không phải là một hoang đảo, trái lại nó đang tắc nghẽn vì đông đúc những người với người. Nhưng bụi đường và khói xe lại làm tôi thấy cái mơ ước đi tìm mẹ  mới ngột ngạt làm sao, phù phiếm làm sao.  Đường Hà Nội vẫn làm cho người ta thấy ngột ngạt hơn những gì mà bản thân tưởng tượng.
Thế thôi!
                                                * * *
Đến cơ quan.
Bác bảo vệ lừ mắt chỉ vào chỗ để xe cố định. Chả hiểu ai đã phân luồng như thế, nhưng cứ hôm nào tôi mải nghĩ ngợi lung tung mà lơ đãng cái bổn phận của mình là y như rằng bị nhắc nhở. Lại một ngày thần kinh không ổn định. Biết là thế nhưng không tài nào chấn chính nổi.
Anh xoay xoay cốc cafe, trầm ngâm nhìn xuyên vào những đốm nắng đầu tiên.
Hỏi:
-Lại cafe à?
Anh nhún vai rất điệu nghệ:
-Giải trí ấy mà. Sao hôm nay mặt cô em hốc hác thế? Bị phụ tình à?
Choáng.
Anh chưa bao giờ ăn nói với tôi bằng cái giọng bụi đời và “vô tâm hoá” thế. Cứ như giữa tôi và anh chả hề quen biết gì. Cứ như tôi chỉ là kẻ phục vụ bàn, hỏi anh uống thứ nước gì và bị anh đáp lễ bằng những câu đầy lễ độ như thế đấy. Cảm giác ngay lúc này là mình đang sống giữa một tập thể nhưng chẳng khác gì hoang đảo. Tránh không nhìn sang phía ấy, muốn bịt tai để những giọt cafe đừng rơi nhấm nhẳng như nỗi cô đơn đang gặm nhấm.
Bật máy tính. Lại viết. Chả thể làm gì khác là chốn vào các trang viết cả. Gõ loạch coạch, thấy mọi thứ dường như cũng suôn sẻ nhưng tự nhiên lại bôi đen và ấn enter, rồi tắt luôn. Biết không thể phục hồi được nữa, cũng không muốn phục hồi. Muốn đi bụi thật, bỏ lại vô số lề thói và nguyên tắc để đi bụi một lần. Dĩ nhiên là đi một mình, dĩ nhiên là chẳng có ai để ý xem tôi đi đâu và làm gì vào bất cứ khoảng thời gian nào. Ở đây mọi người không có thói quen như thế, cũng như họ có thói quen dửng dưng với mọi việc xảy ra xung quanh mình. Chỉ có thể là một người thật sự quan trọng mới quan tâm và lo lắng, nhưng tôi thì lại không có được điều đó.
Bịt kín mặt và lao ra đường, nếu có ai đó gọi tôi là con điên cũng đúng. Tôi đang điên loạn vì sự bức bí phát ra từ chính trong từng đường gân, thớ thịt, từng mạch nguồn suy nghĩ. Tôi biết nếu bản thân không giải phóng được thì rất có thể nó sẽ bốc cháy lên giữa đường Hà Nội như cái xe máy mà tôi đã từng chứng kiến. Thế đấy, cuộc đời tôi là thế đấy.
Chạy xe vẩn vơ. Đèn đỏ. Đèn xanh. Dừng. Đi…Cứ thế! Cảm giác như nghe thấy tiếng kêu u u phát ra từ trong óc, chắc tại nó khô khốc quá, nó cũng đòi tra dầu mỡ như bất cứ một bộ máy nào khác. Nó đã quá tải, nó không được quan tâm thường xuyên và đúng mức hay nó không có những liều thuốc tinh thần thú vị? Tất cả đều đúng hoặc tất cả đều sai…Chẳng mang lại một ý nghĩa gì. Xe vẫn cứ lao trên đường phố, đôi khi phanh kít lại. Nhận ra vô khối cái đầu cần tra dầu mỡ chứ chẳng riêng gì mình. Thấy vui vui, chẳng hiểu vì sao lại thế.
Bỗng!
Gió thổi lạnh gáy, người qua lại bên cạnh mình ít dần đi. Nhận ra mình đã lao đi vun vút về phía ngoại thành. Lại đi, có một cái gì đó cứ kéo mình đi mãi cho đến khi ngửi thấy một mùi vị quen thuộc, một ánh nhìn quen thuộc: “Quê hương”. Không tin nổi mình đã phóng đi hơn một trăm cây số trong vòng mấy tiếng đồng hồ. Phóng đi như một con điên.
                                                * * *
Mộ của bà cỏ hoang đã mọc rất nhiều. Có lẽ một cơn mưa nào đó vừa mới đi qua, một bàn tay ai đó vừa sờ lên cỏ vẫn còn ấm lắm. Hay là nước mắt, nước mắt của một người cháu có kí ức tật nguyền để rồi lớn lên kì thị chính miền quê đã sinh ra mình và bỏ rơi luôn nấm mồ của người đã cưu mang mình từ tấm bé.
Khóc.
Khóc như một lần nữa thấy mẹ sang sông đi lấy chồng bỏ lại tôi cùng đống đồ hàng mồng tơi, không người ngã giá. Để mỗi chiều đi học về phải đối mặt với lũ chăn bò hay chặn đường bắt nạt: “Đồ mồ côi. Đồ không có ai nuôi. Đồ bị bỏ rơi. Lêu lêu! Lêu lêu!” Nó giống như một chuỗi nhạc khủng khiếp của tuổi thơ mà thi thoảng trong những giấc mơ vội vã của mình tôi vẫn bắt gặp.
Luôn tự dối lòng mình rằng: “Mày chỉ là một đứa trẻ bị mồ côi không hơn không kém. Bố mày đã chết. Mẹ mày đã chết. Người thân duy nhất của mày là bà nội cũng đã về với đất lâu rồi”. Nhưng trong tận thẳm sâu vẫn thấy một nỗi tủi hờn cứ chực trào dâng. “Còn biết tủi hờn, còn biết ghét giận là còn biết yêu thương nhiều lắm”. Đột nhiên tôi thấy sợ cái suy nghĩ của chính mình. Tôi không muốn phải công nhận rằng tôi đang giận mẹ, tôi không muốn công nhận rằng tôi còn có bố mẹ trên đời. Điều ấy làm tôi bị tổn thương. Tôi đã cố chối bỏ nhưng tôi đang khóc, tôi ngửi thấy mùi của phù xa, của sóng sông của cát trắng phía bờ bên kia vời xa ấy…
 Nó lững thững đi tìm…
-Ai… đ…o…ò..na…ò! A…i đò đ.i..i...i!
Nghe chênh chao mặt sóng. Người lái đò ca câu gì nghe buồn đến mức không nhớ nổi. Rồi nhìn tôi chằm chằm. Hỏi:
-Sang sông tìm mẹ phải không cháu?
Chẳng hiểu sao tôi lại gật đầu. Người lái đò đẩy mạnh tay lái rồi nhìn phía xa xa, nơi cánh chim chiều đang bay về tổ.
-Mẹ cháu chết rồi, còn tìm chi nữa. Tro còn tưới bến sông này.
Nghe như bầu trời vừa rơi xuống dòng sông trống rỗng. Sóng nước chênh chao, ngả nghiêng như trận bão lớn đang về. Tôi gọi mẹ. Tôi gọi rất to nhưng mẹ không đáp lại:
-M…ẹ…Ơ…i…i….i…!
                                                * * *
Tôi bỏ nhà lên chùa đòi sư bà cắt tóc đi tu. Cha tôi tìm gặp căn ngăn. Lạy cha. Tôi khóc. Người thân trong gia đình không hiểu tại sao. Sư bà nhìn lại, nói những lời không trọng lượng:
-Lòng con đã thật sự tĩnh chưa? Quên hết mọi chuyện đời trần tục hay chưa? Nếu không, có cạo đầu, tụng kinh cũng vô tác dụng.
Tôi gật đầu:
-Lòng con đã tĩnh.
Mà trong lòng gào lên cơn cuồng phong dữ dội.
Anh trai lên thăm, tôi không ra tiếp. Sư bà gật đầu:
-Đã quyết, ắt con làm được.
Ai ngờ tiếng gõ mõ tụng kinh chính là màn cười man rợ của mẹ vọng về.
Tôi ốm liệt giường mấy ngày. Sư bà vào ra không nói một lời. Tại tiếng gõ mõ tụng kinh át đi! Lại là mẹ hiện về rất gần đây thôi, bên tay tôi, đúng rồi,  bên má tôi. Đòi móc mắt tôi.
Tôi lao ra khỏi phòng, ra gian thờ chính giằng bộ mõ của sư bà quăng ra khỏi cửa. Tôi lao ra ngoài, hoảng loạn.”
Tôi nhận ra rằng không phải tôi đang cầm ngòi bút để tạo ra các nhân vật của mình với các số phận khác nhau. Không phải tôi tôi đang bỏ mặc chúng với những hỷ, nộ, ái, ố của cuộc đời…Mà chính là chúng đang bỏ mặc và cười nhạo tôi đấy chứ. Chúng cười tôi cả đời phải đi đóng thế, cả đời không sống nổi với bộ mặt của chính mình. Chúng cười tôi giả dối, cười trái tim mềm yếu của tôi không dám đối mặt với kí ức tật nguyền, không dám tha thứ, không dám yêu thương. Chúng đang coi tôi là loài búp bê đặc biệt, thứ búp bê hoàn hảo đến tội nghiệp.
Cuối cùng đời trả thù lao cho những vai diễn của tôi bằng một cái kết đau đớn nhất. Thế là tôi đã mồ côi thật, tôi bắt đầu hoảng sợ về cái sự thật ấy. Tôi sợ thành phố, tôi chạy chốn con người và công việc. Tôi muốn tìm cho mình một hoang đảo thật sự. Nơi mà tôi không phải đóng bất cứ vai diễn nào trên đời. Nơi chỉ tôi đối mặt với chính tôi.
Cũng may trong phút hoảng loạn ấy, tôi chợt nhớ ra rằng tôi còn cha tôi. Người cha đã bỏ mẹ con tôi theo một người đàn bà khác. Tôi không biết mình có còn đủ sức cho một cuộc kiếm tìm nữa hay không. Nhưng tôi vẫn sẽ ra đi…
                                                              9-6-2009

VŨ THỊ HUYỀN TRANG

Hai nửa...

  


Như thế, khi ngồi vắt vẻo trên thành lan can sân thượng khu nhà trọ, Vân thường hỏi Minh một câu cũ rích:
-Không biết giờ này một nửa của tôi đang ở đâu và đang làm gì ông nhỉ?
Minh đáp tỉnh bơ:
-Đang ở trong một cái nhà vệ sinh công cộng nào đó và giải quyết nỗi buồn thế kỷ.
Cũng có khi Minh đủng đỉnh:
-Một nửa của bà đang ở đây, ngay bên cạnh và lắng nghe những câu hỏi vớ vẩn của bà. Còn bây giờ thì thôi ngay cái điệp khúc sến chuối ấy đi.
Là y như rằng lần nào Minh cũng nhận được cái lườm sắc lém của Vân cùng với một quả thụi nhẹ vào giữa ngực. Rồi hai đứa giải chiếu, nằm chỏng kheo, ngửa mặt lên trời, khi Minh hát nghêu ngao mấy bài nhạc trẻ thì Vân vẫn mải mê nghĩ về một nửa của mình. Đó hẳn nhiên sẽ là một người đàn ông hoàn hảo, đủ  làm mê hoặc bất cứ một người con gái nào, đủ để Vân không bao giờ cảm thấy nhàm chán khi hai người ở bên nhau. Mà với Vân, trong tình yêu kị nhất là sự nhàm chán. Minh sờ trán Vân bảo:
-Chắc ngày xưa nghe nhiều chuyện cổ tích quá à mà bây giờ hồn vía cứ trên mây mãi thế? Thằng cha hói đầu, bụng phệ hiện tại của bà đâu rồi, đừng bảo lại bị bà đá rồi nhé!
-Đừng nhắc đến thằng cha ấy. Người đâu mà kẹt xỉn, đi chơi với gái mà tính toán từng đồng.
-Bà yêu người ta hay yêu cái túi tiền, tính đào mỏ tình yêu mãi à? Thế thì chẳng bao giờ tìm thấy chàng trai hoàn hảo đâu.
-Tôi không xấu xa như ông tưởng đâu nhưng là con gái thì phải được cưng chiều chứ. Mà mấy ông đấy tôi chỉ yêu cho vui thôi, đó không phải là nguyên mẫu lý tưởng của tôi.
Minh ngồi bật dậy trở về phòng, tự nhiên thấy ngột ngạt vô cùng. Vân dời khỏi xóm trọ bằng lớp son phấn lòe loẹt sau khi nhận được cuộc điện thoại của một gã đàn ông nào đấy. Khi chạm Minh ở cầu thang, Vân dặn:
-Tối nhớ cắm cơm nhiều chút, phần tôi một suất nhé. Thằng cha này chả bao giờ đãi tôi bữa nào ra hồn cả. Mà nếu tôi về muộn, nhớ ra mở cổng giúp tôi nghe chưa, thể nào cũng có khối chuyện để kể cho ông nghe đấy.
Minh đứng bên cửa sổ, nhìn theo bóng dáng Vân ngồi vắt vẻo trên con xe mô tô đồ sộ của thằng cha đầu hói. Lòng bỗng nhiên buồn tênh, trống rỗng như thể ngày nhỏ mỗi lần định chạm tay vào chùm bong bóng xà phòng thì nó đã vỡ tan vào không khí, không để lại dấu vết nào. Nhiều khi, Minh muốn lặng lẽ dời khỏi khu trọ này vào một buổi sáng tĩnh lặng nào đó. Ra đi không chào từ biệt ai, không gửi lại chút tin tức gì, không nhìn sang cửa phòng đối diện. Nơi mà Vân đang ngủ vùi trong lớp phấn son chưa kịp gột rửa và mùi rượu phả ra trong từng hơi thở. Cũng có khi Minh muốn đạp tung cánh cửa kia, lôi Vân dậy dội cho vài gáo nước lạnh để cô tỉnh táo. Để trở về thành Vân của những ngày đầu gặp gỡ chứ không phải vẻ trâng tráo, bụi bặm và sành đời của một đứa con gái sống cẩu thả, vô trách nhiệm với chính bản thân mình. Nhưng vì lẽ gì mà Minh vẫn ngồi đó, chờ cho đến mục ruỗng những tháng ngày trôi theo son phấn và nước mắt của Vân.
                                         * * *
Minh và Vân chuyển về khu nhà trọ này cùng một ngày, trời mưa như trút. Hà Nội ngập ngụa trong cơn mưa kỷ lục tháng 10- 2008. Đồ đạc hai đứa đều chẳng có gì, cái ba lô nhẹ tênh và khuân mặt mệt mỏi, chán chường sau một chặng đường dài dắt xe trong biển nước. Sau vài lần va nhau ở cầu thang, khi thì Vân nhờ Minh sang sửa dùm cái cầu chì, cũng có khi Vân kiếm đâu vài cuốn sách của Haruki Murakami mang quẳng sang phòng Minh bảo “Đọc đi, nghe bảo hay lắm đó”. Thế là thành thân nhau, thi thoảng hứng lên hai đứa đi chợ thổi cơm chung, Vân buộc tóc cao ngồi gõ vung chờ Minh lụi cụi rán xong đĩa chả cuốn lá lốt. Trong lúc Minh hứng chí kể về mấy ả điệu chảy nước ở công ty thì Vân chống cằm ngồi nghe chăm chú, thi thoảng lại phá lên cười.
Minh làm việc trong một công ty truyền thông, thi thoảng phải đi công tác vài ngày còn lại quẩn quanh, tiêu tan tuổi trẻ trong thành phố và căn phòng trọ tít hút tầng năm. Nơi ấy Minh có thể nghe thấy bước chân nhẹ nhàng và tiếng hát trong trẻo cất lên mỗi tối Vân đi làm về. Lần nào Vân cũng ghé qua phòng Minh để chuyện trò, để khóc và cũng có khi chỉ để ngồi im lặng, nghĩ ngợi vẩn vơ. Trước lúc lệt bệt quay về phòng, Vân bao giờ cũng hỏi:
-Không biết một nửa của Vân đang ở đâu Minh nhỉ? Hắn đang làm gì và có mảy may nghĩ gì đến tớ không?
Minh đã chán không buồn trả lời câu hỏi ngớ ngẩn ấy, anh ngồi nhìn bóng dáng Vân bước vào phòng cô và đóng sập cửa lại. Với Minh, tuy đã ở cùng khu trọ với Vân đã hơn một năm nhưng kì thực anh chẳng hiểu gì về người con gái ấy. Ngay cả nghề nghiệp của cô, anh cũng không biết, có hỏi Vân cũng chỉ lắc đầu cười. Cũng có khi Vân bảo:
-Minh quan tâm làm gì đến nghề nghiệp của Vân, bạc lắm, đơn giản nó chỉ là một công việc kiếm tiền.
Khi đó Vân còn ăn mặc kín đáo, đi lại nhẹ nhàng, còn xưng tên với Minh. Sau này tình cờ một lần Minh đi cafe cùng bạn, thấy Vân hát mê đắm trên sân khấu nhỏ, mắt buồn đẫm, tiếng hát có lúc như tiếng khóc. Lúc trồ Vân ở khu vệ sinh trong quán, thấy Vân đang ôm eo thằng cha nào già khọm. Nhìn thấy Minh, Vân cười, nụ cười khinh đời và bất cần chưa từng thấy. Từ đấy Vân xưng “tôi” với “ông”, đi về lọc cọc giầy cao gót, mùi rượu nồng, phấn son chát chúa không còn nhận ra cảm xúc.
-Có giọng hát hay như vậy, sao em nghĩ đến việc phát triển lâu dài mà chúi đầu vào mấy quán cafe đèn mờ vậy?
Vẫn cái vẻ trâng tráo, Vân bảo:
-Đèn mờ thì sao? Chả đứa quái nào sơ múi được tôi cái gì cả. Chúng nó cần gái đẹp như một vật trang trí còn tôi thì cần tiền. Cả hai bên đều có lợi như thế cũng tốt chứ sao?
-Nhưng một người đàn ông hoàn hảo thì không chấp nhận như thế.
-Người đàn ông hoàn hảo ấy là ông chắc?
-Không!
-Thế thì đừng ý kiến. Người đó phải yêu tôi và chấp nhận mọi thứ thuộc về tôi thì mới là người hoàn hảo.
Rồi Vân nằm vật ra, chậm dãi kể đủ thứ chuyện, hầu hết đều xoay quanh đàn ông. Khi thì là thằng cha đã một vợ ba con, tính tình phóng khoáng nhưng lúc nào cũng chỉ mong chiếm đoạt cô. Lúc thì gã họa sĩ, tình thì có mà tiền thì nhẵn túi, tóc tai bù xù hôi hám, dù quý tính nhưng cô không thể chạm môi hôn đến lần thứ hai trong cuộc đời. Cũng có khi Vân lại kể về thằng cha hói đầu bụng phệ, nói một tháng đưa cô một triệu với điều kiện đừng ôm eo thằng khác. Vân cười khẩy bảo với Minh “thằng cha đó coi tôi không bằng một con búp bê để tủ kính”. Rồi gục mặt vào vai Minh khóc, bàn tay vụng về của anh chạm nhẹ vào tóc cô thấy xa xót một điều gì khó tả…
Từ khi sống gần nhau, không khi nào Minh thấy Vân nói về gia đình, quê hương, cũng không bao giờ đến thăm một nơi nào đó. Có gặng hỏi, Vân cũng chỉ cười buồn bảo ở đâu có người chờ mình thì ở đó là nhà. Vân ghét nghe bất cứ ai kể về gia đình với hạnh phúc căng tròn và niềm tự hào hiện rõ trên khuân mặt. Ngoài ra Minh không hiểu gì về cô, tựa như cái tên “Vân” vốn là mây trời, là phù du tưởng gần mà hóa xa xôi lắm…
                                         * * *
Trời lại mưa rả rích. Vân trở về khu trọ sớm hơn, để mặc cho nỗi buồn âm ỉ lụi tàn dần. Vân mang ra chai rượu nhỏ, bày ít mực khô, nói:
-Đêm nay say nhé!
-Mai tôi còn phải đến cơ quan làm việc. Mà đàn bà đừng nghiện ngập mấy thứ đấy. Trông khó coi lắm.
Mất hứng, Vân vứt chai rượu chỏng chơ góc nhà, nằm dài dưới nền phòng Minh, gỡ mực khô nhai trệu trạo. Như chẳng có gì để nói với nhau nhiều hơn mọi khi một chút, Vân lại quay sang vấn đề muôn thưở nhưng giọng đã nhiều hoài nghi và mệt mỏi:
-Liệu tôi có thể tìm được một nửa của mình hay không? Hay tôi là một người dư thừa sau khi thượng đế đã xắp xếp mọi đôi lại với nhau? Nếu tôi bị lẻ đôi thì có nghĩa mãi mãi tôi chỉ là vật trang trí, là trò chơi cho kẻ khác. Phải không ông?
Khi Minh ngẩng lên, bắt gặp đôi mắt ầng ậc nước của Vân nhìn mình như kêu cứu, như muốn bấu víu, muốn nói “hãy làm ơn ở bên tôi, ôm lấy tôi và giúp tôi vượt qua quãng thời gian khủng khiếp này”. Nhưng Minh đã không đủ sức làm bờ vai cho Vân tựa, không biết phải nói gì cho cô nguôi ngoai, không dám làm gì cho đôi mắt kia thôi giỏ lệ. Hai người ngồi bên im lặng bên nhau, thời gian nặng nề trôi qua trong dằn vặt, hoài nghi và đau đớn. Chính giây phút ấy Minh cứ tự hỏi liệu mình có thể yêu người con gái đang ngồi trước mặt bằng tất cả sự rộng lượng, bao dung, cái thứ vốn ít có ở nhiều thằng đàn ông. Liệu có thể chấp nhận Vân và lãng quên những câu chuyện tanh mùi thực dụng, quên hình ảnh những cái ôm eo, quên hình ảnh thằng cha đầu hói... Và biết đâu, ngay cả sau này khi đã chấp nhận tình yêu ấy, Vân vẫn sẽ ra đi trong lớp phấn son ma mị và trở về trong nồng nặc hơi men. Biết đâu trong một giây phút nào đó đang nằm trong tay nhau, Vân lại hỏi về một nửa của mình liệu đang ở nơi đâu? Khi ấy Minh sẽ là cái gì? Sẽ lại là một cuộc vui không hơn không kém.
                                         * * *
Minh đưa thiệp mời cho Vân sau buổi sáng Vân chạm mặt một người con gái lạ bước ra từ cửa phòng Minh với chút gượng ngùng và mái tóc còn chưa kịp chải. Lần đầu tiên Vân ngập ngừng đứng trước cửa phòng Minh mà không thể bước vào. Cũng là lần đầu tiên khi đối diện với nhau, Minh không dám nhìn thẳng vào mắt Vân như những lần ngồi bên nhau nữa. Tối đó, sau khi uống khá say, Vân leo lên sân thượng đã thấy Minh ở đó. Vân châm thuốc, rít một hơi thật mạnh rồi phả khói vào mặt Minh cười khanh khách.
-Lại còn cả hút thuốc nữa à? Từ bao giờ vậy?
-Lâu rồi. Thích thì hút, chả ảnh hưởng đến ai. Mà sao nhanh vậy?
-Cái gì nhanh?
-Thì việc ông lấy vợ. Sao chẳng bao giờ thấy ông kể với tôi về người con gái ấy. Quen nhau lâu chưa?
Minh nằm ngửa cổ lên trời, khẽ thở dài:
-Vừa đủ để có thể hiểu nhau.
-À! Cái đó người ta gọi là một nửa đây mà. Dù sao cũng chúc mừng ông đã tìm thấy một nửa cho mình.
Vân nói rồi loạng choạng đi xuống phòng. Minh lặng im, thấy buốt nhói nơi ngực trái.
Ngày cưới Minh, Vân có mặt từ sớm nhưng ngồi khuất trong đám đông, lặng lẽ nhìn cô dâu, chú rể cúi lạy gia tiên và rạng rỡ khi trao nhẫn cưới. Một cảm giác hụt hẫng xâm chiếm lòng Vân, như thể cô vừa mất đi một điều gì vô cùng quý giá. Khi Vân bước ra khỏi đám cưới, Minh khẽ buông lỏng tay cô dâu, lặng lẽ nhìn theo như thể đang bất lực và nuối tiếc khi một phần hồn đã bay đi mất. Đám đông không mảy may quan tâm đến cô gái vừa dời khỏi đám cưới, cũng không nhận biết được cảm giác chênh vênh của chú rể. Họ chỉ làm đúng phận sự của một đám đông trong ngày đại hỉ. Họ hô vang:
-Hôn nhau đi! Hôn nhau đi!

Chú rể khẽ giật mình, luống cuống đặt lên môi cô dâu một nụ hôn vội vã.

Khách trọ...


                                                                       
 Khách trọ đến ở đã được một tuần, đã quen với căn phòng mới và quen cả việc mỗi ngày nhảng qua tường sang nhà chủ xách nước hai lần. Khách trọ tên Huyền, bà chủ vẫn gọi Huyền đen, Huyền tuyền âu yếm, ngọt ngào như cái cách bà gọi con misa cưng của bà. Huyền chẳng bao giờ thèm giận, vẫn sáng một lần, chiều một lần sách hẳn cái can to đoành sang đựng nước. Nhà bà chủ không giàu, có hai cái phòng cấp bốn, hai mẹ con bà ở một phòng với vài ba thứ đồ linh tinh không đáng giá, còn một phòng bà cho Huyền thuê trọ với giá ưu đãi. Từ đó nhà bỗng có ba người.
Nhà chủ rộng rãi, thật hiếm có một nhà nào ở giữa trung tâm thu đô lại đặc sệt tính nhà quê như thế. Ngoài vườn trồng vài ba bụi chuối, nuôi hẳn một đàn gà mười con, con nào con ấy vàng ươm. Ban ngày gà mái cục con ầm vườn, ban đêm thì gà trống gáy cả ngõ phố tỉnh giấc. Vài bụi mía tím vẫn còn trắng phấn, vài gốc cam bị sâu đục vàng, cây mít đã đến mùa ra quả. Tất cả đều gợi cho khách trọ cảm giác thân thuộc như quê mình. Đôi khi, giữa đêm tỉnh dậy vì tiếng gà gáy mà khách trọ cứ ngỡ mình đang nằm ngủ giữa quê nhà.
Đất nhà bà chủ đắt lắm, bao nhiêu người đến hỏi mua nhưng bà đều lắc đầu cười. Có hôm buột miệt khách trọ hỏi:
-Nhà thì ít người sao bác không bán bớt đất để làm gì rộng thênh thang thế này?
Bà bảo:
-Để cho thằng Hùng lấy vợ, sinh con, con lại sinh ra cháu. Đất bao nhiêu cũng chưa đủ chứ thế này đã ăn nhằm là gì. Ở rộng rãi cho nó thoải mái, chen nhau chật chội thì chỉ có mà tổn thọ thôi.
Đôi khi khách trọ nghĩ bà chủ thật dại, bao nhiêu người bán đất để có nhà lầu, xe hơi mà bà thì chỉ thích sống đạm bạc. Thế mà ai nói gì bà cũng chỉ cười cho qua chuyện. Cuộc sống của hai mẹ con bà không giàu có nhưng cũng tạm đủ. Bà trước kia bà mở quán cắt tóc nho nhỏ ở vỉa hè, sau này vừa là có tuổi, lại làm ăn không thuận lợi như trước kia nữa vì quán cắt tóc, gội đầu massage nổi lên khắp nơi nên bà không làm nữa. Suốt ngày quanh quẩn chăm mấy con gà và cơm cháo chờ anh con trai đi làm về. Anh Hùng học xong Đại học, xin luôn vào một công ty điện tử, lương tháng vài triệu, lúc nào cũng thấy anh vui vẻ, tính y hệt bà chủ. Người ngoài bảo “được cả mẹ lẫn con”, khách trọ thì nghĩ thầm họ như người ở nông thôn lạc xuống phố không bằng. Người đâu mà chân chất, thật thà đến lạ.
Dạo này nhà có ba người nên mỗi sáng đi chợ bà dặn mình mua nhiều hơn một chút. Bình thường chỉ nửa cân hến là hai mẹ con nấu canh ăn đủ, bây giờ bà mua cả cân mà vẫn lo sẽ thiếu. Bình thường bà chẳng bao giờ ăn được mướp đắng nhưng từ khi biết khách trọ thích ăn thì tuần nào bà cũng ghé hàng rau mua mướp đắng ít nhất một lần, rồi tạt qua hàng trứng mua về xào lên cho khách trọ. Mặc dù hai phòng ăn riêng, nhưng cứ đến bữa ăn là bà lại bê một bát thức ăn đứng bên bờ rào bằng bê tông gọi khách trọ ra dúi vào tay rồi lặng lẽ đi vào. Đôi khi mua hoa thắp hương mồng một, lại nghĩ phòng con gái cần phải có lọ hoa mới ra dáng thế là bà cũng đi mua hoa, mua bình về dúi cho khách trọ. Con trai bảo đùa:
-Mẹ chiều khách trọ hơn cả chiều con.
Bà chủ mắng yêu:
-Bố anh! Anh thì đã có mẹ lo cho từng miếng ăn, còn người ta một thân một mình sống giữa thành phố này, đói lo không ai biết. Lúc ốm đau không ai chăm, cũng là người thì phải biết thương người ta chứ.
Con trai chỉ cười, rồi tặc lưỡi bảo:
-Sao mà mẹ lại thương người hơn cả bản thân mình thế không biết được. Chưa nói dứt câu đã thấy bà ra bờ rào hỏi khách trọ:
-Cháu có gội đầu với bồ kết không? Bác đun luôn cho nhé!
Khách trọ sờ mái tóc rối bù của mình sau một ngày đạp xe đi làm thêm quanh Hà Nội, rồi vâng khe khẽ.  
Khách trọ đẹp. Cái vẻ đẹp thùy mị, dịu dàng của người con gái thôn quê. Lên thành phố ăn học đã được ba năm nhưng nhìn khách trọ không thay đổi nhiều so với buổi đầu mới đến đây thuê nhà. Vẫn mái tóc đen dài, vẫn mặc những bộ quần áo kín đáo mà tươm tất, vẫn nụ cười dễ làm mê đắm trái tim người khác. Khách trọ hiền, ít nói nhưng rất biết an ủi và giúp đỡ người khác. Những hôm trời hanh nắng, thấy bà chủ ra hiên nhà ngồi buồn thiu, để mấy con gà vào tận nhà quấy mà bà không buồn đuổi. Biết bà buồn, khách trọ lân la nhổ tóc sâu, chuyện trò hoặc chỉ ngồi im lặng nghe bà chủ thở dài từng tiếng. Những hôm mưa triền miên ngày đêm, trời đất, khi con trai đã đi làm, bà chủ lại ra hiên ngồi, nhìn mông lung ra màn mưa. Khách trọ ở bên này cũng ra hiên ngồi, tự nhiên không hiểu sao thấy buồn vu vơ, một nỗi buồn xa lắc...
                                                * * *
Ngày nhỏ, khách trọ cũng có những ngày ngồi ngóng vọng trong trời mưa như thế. Khi người mẹ hiền mất đi, khi bố phải theo những chuyến tàu lên biên giới làm ăn. Nhà chỉ còn mình bà nội với Huyền, mái lá cọ không tránh nổi những cơn mưa ồ ạt mùa hè, không che kín những cơn gió buốt rét mùa đông, không giấu nổi nỗi buồn đìu hiu, se sắt khi mùa thu đến. Mẹ mất vì bệnh ung thư vú, để lại trong trí óc Huyền mãi mãi là đôi mắt mẹ lúc nào cũng ầng ậc nước, giọng nói buồn như mưa, và đôi bàn tay những lúc ôm Huyền vào lòng mỏng manh như gió. Từ ngày mẹ mất, ngày nào Huyền cũng ra hiên ngóng, dù đã mấy lần nội bảo “mẹ con mất rồi, về một thế giới khác rồi và sẽ không bao giờ quay trở lại nữa đâu”. Huyền biết điều ấy, nhưng vẫn không thôi ngóng đợi. Ngày ấy Huyền còn tin vào cổ tích.
Huyền lên lớp bảy thì nội mất. Đúng vào những ngày mưa tầm tã như thế này. Nội đi rất nhẹ nhàng, khi hai bà cháu đang ngồi ngoài hiên thì nội kêu mệt vào giường nằm, một lúc sau nội gọi Huyền vào, nội ôm Huyền trong tay rồi hai bà cháu chìm vào giấc ngủ. Khi tỉnh dậy, Huyền kể chuyện về giấc mơ gặp mẹ ở một nơi rất đẹp với thật nhiều hoa bướm, chim muông. Huyền nằm im trong vòng tay bà, nói mãi, nói mãi vẫn không thấy bà lên tiếng, Huyền giật mình lay gọi mới biết nội đã đi rồi. Đôi môi nội buồn thiu, nhưng vòng tay ôm Huyền vào lòng thì vẫn chắc và rất ấm đến lạ. Bố đi làm xa, lúc đó nhà chỉ còn mình Huyền, nhìn ra màn mưa trắng trời mà thấy sao mình nhỏ bé, đơn độc thế...
Từ đó bố thôi không đi lên biên giới làm ăn nữa mà ở hẳn nhà chăm nom Huyền. Hàng ngày bố đi làm đồng, rảnh rỗi thì đi làm thuê bất cứ việc gì miễn là để có tiền cho Huyền ăn học. Dù bố đã cố gắng yêu thương để bù đắp những thiếu thốn tình cảm cho Huyền, nhưng cô không nào sao thôi nguôi ngoai nhớ mẹ. Nỗi nhớ như từng mạch máu cứ chảy rần rật trong da thịt, nỗi nhớ như cơn mưa, như từng đợt gió táp vào lạnh buốt. Huyền nhớ những buổi chiều hai mẹ con ra đồng tát tép, mặt Huyền lắm lem vì nghịch nước, mẹ âu yếm dùng bàn tay vẫn còn tanh mùi bùn, quyệt vội vào chiếc áo mồi của mẹ rồi dịu dàng lau má cho Huyền. Mùa đông, nhà nghèo nên Huyền chỉ có độc chiếc áo khoác hoa đã vá nhiều chỗ. Những hôm mưa, áo bị ướt, mẹ phải ngồi suốt canh thâu hơ áo để ngày mai Huyền có áo mặc đến trường. Lúc khoác chiếc áo vào người hơi ấm của than lửa, của tình yêu thương bao la từ mẹ khiến Huyền thêm ấm áp, chỉ có đôi mắt mẹ là trũng sâu vì thiếu ngủ. Những đêm mùa hè, cả vùng nông thôn đều chưa có điện, cả nhà nằm ngủ ngoài hiên, mẹ ngồi quạt cho mọi người đến lúc ngồi ngủ gật lúc nào không biết. Từ khi mẹ không còn trên cuộc đời này nữa, thì đối với Huyền nó là một thiếu hụt không gì có thể bù đắp được.
Từ ngày xuống thành phố học, lúc còn ở trong kí túc xá, hàng ngày thấy những bà mẹ khác xuống thăm con bằng sự lo lắng, những cử chỉ yêu thương, những vỗ về hiền hậu Huyền lại thấy chạnh lòng. Nhiều đêm nằm nghe đứa bạn gọi điện về cho mẹ khóc vì nhớ nhà. Nhiều đêm chùm kín đầu trong chăn khóc khi thấy đứa bạn nhận được thư của mẹ với những nét chữ của người không quen cầm bút, nhưng dòng chữ nào cũng ướt nhòe nước mắt. Dần dần sự thiếu hụt tình cảm của người mẹ khiến Huyền sống khép mình trong nỗi cô đơn và nhiều khi là cả sự mặc cảm và đố kị. Để tự giải thoát mình, Huyền xin ra khỏi kí túc xá và đi tìm nhà trọ.
Huyền làm khách trọ nhà mẹ con bà Cẩm đã được ba năm. Ở đây Huyền ít bị tổn thương, trừ những hôm bà Cẩm lôi cậu con trai đã lớn tướng ra giữa sân để bà vừa cắt tóc vừa cằn nhằn:
-Tóc tai để rậm rịt thế này mà cũng dám thò mặt ra đường, mà cũng dám mơ tưởng đến con gái người ta hả?
Là thể nào Hùng cũng nhăn nhó;
-Mẹ đừng cắt cho con quả đầu giống những năm 90 là được. Mà thôi, mẹ cứ để con ra quán cắt cho xong.
-Ngồi im đấy cho mẹ. Cứ cạo chọc không còn cái tóc nào là được đúng không? Đợi con mò ra quán thì có khi thành vượn.
Huyền ngồi bên này ngó sang, miệng thì cười mà tim sao nhoi nhói.
                                         * * *
Nhà bà chủ hóa ra cũng có con gái nhưng đã mất vì tai nạn lâu lắm rồi. Nhiều lúc buồn buồn bà chủ bảo:
-Nó mà còn sống cũng sẽ xinh đẹp như cháu vậy. Da nó trắng hồng, tóc đen mượt vì chiều nào bác cũng đun bồ kết cho nó gội. Hôm ấy con bé xin phép sang nhà bạn hỏi mấy bài tập khó, lúc dắt xe ra cổng nó còn quay vào bảo chỉ đi chốc lát rồi về ăn cơm. Thế mà bác ngồi ở hiên này đợi mãi, đợi cho đến tận bây giờ vẫn không thấy nó về...
Khách trọ có lúc buột mồm lại hỏi về bác trai. Bà chủ cười, hất tay chỉ vu vơ ra ngoài đường bảo:
-Ông ấy bỏ mẹ con bác đi lâu rồi. Bây giờ có vợ con trong Sài Gòn ý.
Mắt bà chủ rưng rưng. Khách trọ ngồi buồn xo. Hùng đi làm về thấy vậy là cằn nhằn:
-Mẹ đi vào nhà ngồi đi, chứ cứ ngồi ngoài này mưa tạt vào ốm thì sao, con nhắc mẹ bao nhiêu lần rồi. Lạnh lắm!
Khách trọ ra trường, ở thêm được hai năm nữa thì phải lòng mẹ con bà chủ. Sau mấy lần bà Cẩm bảo con trai chịu khó đưa khách trọ về quê thăm bố. Sau mấy lần khách trọ gặp phải dịch sốt, nằm li bì ở nhà được Hùng hỏi han ân cần, tự tay bà Cầm bón cho từng thìa cháo nhỏ tận tình như một người mẹ. Và sau cả rất nhiều buổi chiều nhìn bà Cầm ngồi ra hiên ngóng vu vơ đứa con gái nhỏ, tự nhiên khách trọ thấy yêu những con người trong ngôi nhà này như một phần thân thuộc. Hùng đã bàn với khách trọ đón bố xuống ở cùng nhà cho vui. Bà Cầm đã bàn chuyện phá bỏ bức tường rào, đập bỏ hai phòng cấp bốn rồi xây một cái nhà cho tử tế. Hai phòng giờ đã ăn chung nhau, bà chủ coi khách trọ là con cái trong nhà, giục hai đứa nhanh đưa nhau đi mua nhẫn cưới, thuê váy áo còn chụp ảnh cho kịp không lại hết mùa xuân.

Vũ thị Huyền Trang